Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Cùng tìm hiểu việc tái cấu trúc DN: Phiên bản 2

TGM là một công ty còn trẻ do nhóm bạn trẻ học ở Singapore thích kinh doanh thành lập nên. Trần Đăng Khoa, Chủ tịch HĐQT Công ty TGM, cho biết, do nhận thấy thấy mảng đào tạo kỹ năng sống, kỹ năng mềm cho các bạn trẻ ở Việt Nam còn nhiều cơ hội, nên anh đã mua bản quyền ở Singapore về làm.
Nước đã qua chân
Giáo sư Hà Tôn Vinh, Chủ tịch HĐQT Stellar Management, nói rằng: “Tôi đã 66 tuổi và đã đi qua 5 kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới, mà khủng hoảng nào cũng trầm trọng. Nhưng cần phải hiểu một điều, khủng hoảng là một thực tế gắn liền với kinh tế thị trường, hãy coi đó là sự kiện bình thường. Tôi cho rằng, khủng hoảng tốt cho DN, bắt DN phải nhìn lại mình, từ đó tìm cách tái cấu trúc lại DN và chuyển đổi mô hình kinh doanh”.
Là một trong những tập đoàn CNTT năng động tại Việt Nam, hoạt động tái cấu trúc thường được lãnh đạo Tập đoàn CMC đặt ra như một hoạt động thường xuyên. Riêng đối với CMCSI Sài Gòn, theo ông Đặng Thế Tài, Tổng giám đốc CMC SI Sài Gòn, quá trình tái cấu trúc được đặt ra từ năm 2008 - 2009, khi công ty đang ở giai đoạn phát triển mạnh nhất. Kết quả là năm 2011, CMCSI Sài Gòn được lãnh đạo Tập đoàn CMC đánh giá cao vì giữa bối cảnh thị trường suy giảm thì CMCSI Sài Gòn nổi bật về kết quả kinh doanh có lãi.
Năm 2011, CMC SI Sài Gòn cắt giảm 1/3 nhân sự nhưng vẫn có lợi nhuận, và trong năm 2012 công ty dự tính sẽ tăng trưởng hơn 60%. Ông Tài kết luận: “DN phải từ tích lũy mới chuyển sang nhảy vọt”.
TGM là một công ty còn trẻ do nhóm bạn trẻ học ở Singapore thích kinh doanh thành lập nên. Trần Đăng Khoa, Chủ tịch HĐQT Công ty TGM, cho biết, do nhận thấy thấy mảng đào tạo kỹ năng sống, kỹ năng mềm cho các bạn trẻ ở Việt Nam còn nhiều cơ hội, nên anh đã mua bản quyền ở Singapore về làm.
Năm 2009 được Khoa gọi là năm đầu bùng nổ khi từ 4 người điều hành ban đầu, nhân sự công ty đã lên tới 200 người. Cũng chịu ảnh hưởng của nền kinh tế đi xuống, nhân sự công ty sau đó tụt dần xuống còn hơn 100 người, sau một thời gian cắt giảm tiếp sẽ chỉ còn gần 100 người.
Khoa khẳng định chuyện cắt giảm nhân sự là cần thiết, vì đội ngũ cần tái cấu trúc là đội ngũ huấn luyện viên: “Cả trăm người làm cùng một công việc, rất dễ dẫn đến xung đột. Mà DN chúng tôi không có vốn, vì là DN dịch vụ, dựa vào con người và trí tuệ là chủ yếu, nên thay đổi là tất yếu”.
Trường hợp của Công ty Bách Khoa Computer được coi là “ca khó” khi tái cấu trúc xuất phát từ việc chuyển đổi mô hình kinh doanh. Ông Trần Việt Quân, Tổng giám đốc Bách Khoa Computer, cho biết, sau 5 năm hoạt động, công ty có 150 nhân viên, chuyên về bán sỉ. Cách đây hơn 2 năm, Bách Khoa Computer chuyển sang bán lẻ vì bán sỉ không thu được nợ.
Lý do là khi kinh tế khó khăn, khách hàng không quỵt nợ nhưng trả chậm, nên càng bán càng âm do dòng tiền không chạy về. Nhưng chuyển sang bán lẻ lại gặp bài toán về quản trị khi có hơn 40 điểm bán hàng trên toàn quốc cùng hơn 900 nhân viên, từ đây dẫn đến hàng hóa, vận chuyển bị phân tán, con người cũng phân tán, chất lượng giữa từng điểm bán không đồng đều.
Chọn áo cho vừa thân
“Tại sao thời gian này nhiều công ty tư vấn không thành công? Lý do là 2 năm trước, các DN rất hào hứng với kiến thức mới, nhưng nay họ thiếu kiến thức triển khai thực tế như thế nào.
Tâm lý của DN Việt Nam là tôi đưa tiền ra và tôi muốn ai đó làm thay tôi. Như vậy, DN đã tiếp cận sai vấn đề, vì họ kỳ vọng nhưng nhà tư vấn kia không làm được, trong khi phía DN lại chưa sẵn sàng để làm”, ông Tài phân tích.
Chính bản thân CMC SI Sài Gòn năm 2005 đã thuê rất nhiều tư vấn. Nhưng vốn quen với ngành hàng tiêu dùng, tài chính, sản xuất, còn CMC chuyên về CNTT, có những ngành phức tạp, như là tích hợp hệ thống, do đó phía tư vấn không rành. Cuối cùng CMC SI Sài Gòn quyết định tự làm.
Để giải quyết vấn đề của Bách Khoa Computer, ông Trần Việt Quân cũng chọn phương án thuê tư vấn tái cấu trúc, thậm chí phải thuê hai đội tư vấn, một đội về quản trị, một về tài chính. Nhưng ông Quân kết luận: “Chúng tôi càng thuê tư vấn thì công ty càng lỗ.
Sau gần 1 một năm, tôi mới phát hiện ra phía tư vấn không có khả năng “may đo” chiếc áo cho vừa với sức khỏe của công ty mình, và may đo càng lệch thì công ty càng đi xuống. Bộ máy quản trị phình gấp đôi, chi phí cao hơn hẳn”.
Cuối cùng, Bách Khoa Computer phải cắt hợp đồng tư vấn, tự làm theo kiểu vừa học vừa làm. Thế nhưng, ông Quân cho biết, có những trường hợp, ban quản trị chỉ cần sắp xếp lại vài vị trí là ổn, chứ không quá phức tạp.
Nhưng theo ông Quân, những biện pháp xử lý trên cũng chỉ là giải quyết tạm thời. Để giải quyết triệt để, ông đã cho thành lập Trung tâm Đào tạo Bách khoa: “Chỉ riêng 500 con người phía Nam, mỗi lớp chỉ đào tạo được cho 40 người thì chúng tôi phải cần tới mười mấy lớp. Do đó, chúng tôi quyết định thành lập hẳn một trung tâm đào tạo”.
Tái cấu trúc thành công trong thời điểm khủng hoảng có nhiều cái lợi. Ông Đặng Thế Tài cho rằng, tăng trưởng của CMC SI Sài Gòn một phần cũng là do một số công ty cùng lĩnh vực đã... chết.
“Những công ty làm dự án trong ngành của chúng tôi trước đây thường sống bằng quan hệ. Lúc họ có lợi nhuận cao thì không lấy lợi nhuận đó để tái đầu tư, mà lại đem đi đầu tư vào bất động sản, chứng khoán..., nên đã chết tức tưởi”, ông Tài giải thích.

Tìm câu trả lời: Găm hàng xăng dầu, Ai lãi đậm?

Trong đợt sắp tăng giá gần đây, 3 kho bể của vị chủ cây xăng này gần như cạn kiệt, xăng còn 2.000-3.000 lít, chỉ đáp ứng 1/5 nhu cầu trung bình ngày, còn dầu thì hết sạch. Khi gọi điện đăng ký nhập hàng thì nhân viên ở đây lại cất bài ca cũ: "Ngày mai nhập khó lắm anh ơi, rồi thì hiện đang hết hàng, hoặc đông lắm, chưa bố trí được... ".
Nếu doanh nghiệp đầu mối than phiền cây xăng thường cố tình đóng cửa, chờ tăng giá làm náo loạn thị trường thì cây xăng lẻ phản ứng, cho rằng nếu có thì chỉ đầu mối, tổng đại lý to mới bõ công làm chuyện đó.
Có nhiều lý do để cây xăng thanh minh chuyện đóng cửa như mất điện, hỏng trụ bơm xăng hay nợ tiền... , hay theo kiểu "tình ngay, lý gian" như hết hàng. Thật khó để biết đích xác, bồn xăng trống rỗng do đầu mối không cung cấp hay vì cây xăng không nhập hàng? Biện minh cho tình trạng này, mỗi bên đều đưa ra những lý lẽ riêng.
Cây xăng găm hàng: Lời 1.000 đồng mỗi lít
Ông Đàm Quang Dũng, Phó Giám đốc Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình - một đơn vị phân phối thuộc Petrolimex - cho hay: "Phương thức giao dịch giữa công ty và cửa hàng xăng dầu lẻ là công ty chở hàng tận nơi, thanh toán tại thời điểm giao nhận hàng.
Giá thanh toán bằng giá xăng dầu bán lẻ ở thời điểm giao nhận trừ hoa hồng. Nếu lô hàng này được găm lại và bán sau khi tăng giá, lãi của cây xăng sẽ không chỉ là mức chiết khấu hoa hồng trên mà còn cộng thêm cả chênh lệch tăng giá".
Ví dụ, trước 13/8, giá xăng bán lẻ là 21.900 đồng, chiết khấu của công ty Hà Sơn Bình là 140 đồng/lít thì khi thanh toán, cửa hàng sẽ phải trả 21.760 đồng/lít cho công ty.
Đối với dầu diezen, giá bán lẻ lúc này là 20.800 đồng/lít, chiết khấu 220 đồng/lít thì chi phí cửa hàng trả cho công ty là 20.580 đồng/lít.
Tuy nhiên, từ 14h ngày 13/8, giá xăng tăng 1.100 đồng/lít lên thành 23.000 đồng/lít, chiết khấu hoa hồng tăng lên 200 đồng/lít. Dầu diezen tăng 750 đồng/lít, thành 21.550 đồng/lít và mức chiết khấu cũng tăng lên là 300 đồng/lít.
Khi găm hàng cũ lại để bán theo mức giá mới, mỗi lít xăng, cửa hàng lẻ lãi tới 1.240 đồng/lít thay vì 140 đồng/lít, nghĩa là hưởng trọn gói mức chênh lệch 1.100 đồng/lít. Tương tự, mỗi lít dầu bán theo giá mới, lãi thu về không phải là 220 đồng/lít mà là 790 đồng/lít.
So với hoa hồng đã tăng lên sau đó là 200-300 đồng/lít và nhập lô nào, bán ngay lô đấy, các cây xăng chỉ lãi thêm 60 đồng/lít xăng và 80 đồng/lít dầu diezen. Nhưng bằng việc bán cầm chừng, nhỏ giọt hoặc lưu xăng ở xe tec... thì khoản lãi thực tế sẽ gấp 4-5 lần.
Một mánh khóe khác của giới bán lẻ xăng dầu cũng được đại diện SaigonPetro cho biết, các đại lý đặt hàng thanh toán trước nhưng khi sắp tăng giá thì không đến nhập hàng mới hoặc chủ động giãn lấy hàng.
Như vậy, tiền đã thanh toán theo mức giá cũ, phiếu mua hàng đã cầm trong tay, chờ tăng giá xong cửa hàng mới nhập xăng thì nghiễm nhiên, lô hàng xăng dầu đó được bán giá mới, lời thêm cả nghìn đồng.
Đây là một kiểu đầu cơ mà đại lý bán lẻ không lo bị quản lý thị trường "bắt tận tay, day tận trán". Hiện trường là kho bồn trống rỗng, đại lý lại viện cớ lỗi do đầu mối không cấp hàng nên lực lượng chức năng không đủ chứng cứ kết luận là găm hàng. Về phía đầu mối, tiền đã nhận về tài khoản, tiến độ nhận hàng là do phía đại lý chủ động đăng ký theo nhu cầu nên các DN này không có liên đới gì với việc cây xăng hết hàng.
Chiết khấu thấp, đầu mối ép đại lý thua lỗ?
Một chủ cây xăng bán lẻ tại Hà Nội than rằng, các bài toán lời lãi từ việc găm hàng đầu cơ như đầu mối tính trên là "tính cua trong lỗ".
"Thử hỏi, với mức nhập mỗi lần từ 5.000-15.000 lít xăng dầu thì chênh lệch được hưởng là bao nhiêu, có đáng để găm hàng không? Và thực sự, cây xăng có đủ điều kiện kho bãi để găm hàng không?", ông chủ này bất bình.
Ông tính toán: "Găm được 10.000 lít xăng như đợt tăng giá 13/8 vừa qua, lời thu về là 12,4 triệu đồng, găm được 10.000 lít dầu diezen, lãi được 9,7 triệu đồng".
Đó là sức tiêu thụ của cửa hàng xăng dầu lớn, còn nếu là cửa hàng nhỏ, tiêu thụ 1.000-2.000 lít/ngày thì dù một ngày cố tình đóng cửa, cây xăng chỉ thu thêm từ 970 ngàn - 1,24 triệu đồng. Con số này quá ít để trở thành động cơ găm hàng cho cây xăng.
Lại nói về điều kiện kho chứa, vị chủ cửa hàng xăng trên cho biết, cửa hàng to hiện đại nhất Hà Nội của ông có tổng sức chứa 60.000 lít với 3 bể; 2 bể dung tích 25.000 lít và 1 bể dung tích 10.000 lít. Việc nhập xăng dầu diễn ra hàng ngày theo sức mua từ 10.000-15.000 lít và không chờ khi bồn rỗng mới nhập. Bởi lẽ đó, nghi ngờ các cây xăng đầu cơ hàng nghìn lít là vô lý, trong khi rủi ro bị cơ quan chức nặng phạt rất lớn. Một số cây xăng khi kiểm tra, còn tồn 200-300 lít xăng dầu trong bồn mà không bơm xăng là một đặc thù lưu trữ xăng dầu. Vì đây là mức để bồn chứa xăng không bị cạn đáy.
"Ước so sánh với sức chứa của các đầu mối xăng dầu lên tới hàng trăm nghìn m3 thì rõ ràng, đầu cơ, găm hàng của cây xăng nhỏ lẽ không "bõ công", vị này kết luận.
Theo phân tích của ông, các đầu mối xăng hiện nay hầu hết là DN Nhà nước, liên kết tập quyền, thao túng thị trường toàn bộ.
Khi quyền định giá nằm trong tay, toàn bộ thông tin giá xăng dầu đều chỉ có các DN này biết. Ngược lại, cũng là một thành phần chính trong cấu trúc thị trường xăng dầu thì hơn 15.000 cây xăng bán lẻ, trên thực tế cũng là các công ty tư nhân nhỏ lại bị đứng ngoài cuộc, không hề có quyền tham gia chính sách. Rõ ràng, các thủ thuật để trục lợi trong kinh doanh chỉ có thể thuộc về những kẻ nắm quyền lực thông tin.
Trong đợt sắp tăng giá gần đây, 3 kho bể của vị chủ cây xăng này gần như cạn kiệt, xăng còn 2.000-3.000 lít, chỉ đáp ứng 1/5 nhu cầu trung bình ngày, còn dầu thì hết sạch. Khi gọi điện đăng ký nhập hàng thì nhân viên ở đây lại cất bài ca cũ: "Ngày mai nhập khó lắm anh ơi, rồi thì hiện đang hết hàng, hoặc đông lắm, chưa bố trí được... ".
Tuy nhiên, "bài chơi" của các đầu mối hiện nay là ép hoa hồng. Nhiều năm kinh doanh xăng dầu, ông kể, cứ khi chuẩn bị một chu kỳ tăng giá, đầu mối hạ hoa hồng thấp bất thường.
"Đợt đầu tháng 8, hoa hồng hạ xuống 140-220 đồng/lít. Khi nhập của tổng kho PV Oil ở Hải Phòng về Hà Nội, chúng tôi phải chịu trách nhiệm về vận chuyển. Tính cụ thể ra, chi phí vận chuyển đã là 210 đồng/lít thì với chiết khấu 140 đồng/lít xăng, chúng tôi nhập đến đâu là lỗ luôn đến đó!", ông kể.
Thực tế này đã khiến nhiều cây xăng ngán ngẩm, chẳng mặn mà nhập hàng trong khi, việc bán hàng vẫn phải duy trì. Thế nên, hàng trong bể vơi đi dần và nhiều cây xăng thà để bồn trống, hết hàng còn hơn là đi nhập về bán lỗ.
Khi phía đại lý nhập ít hàng đi, các đầu mối giảm sản lượng bán ra thì càng tồn nhiều xăng trong kho, đầu mối có lợi cho giai đoạn được tăng giá sau.
"Tiền đầu tư là của tư nhân nhưng các cây xăng luôn phải chịu trách nhiệm chung về an ninh năng lượng, lưu thông thị trường. Đây là điều rất bất hợp lý trong cơ chế thị trường", vị chủ cây xăng này bày tỏ.
Theo một chuyên gia nghiên cứu về xăng dầu, những xáo trộn đó dù từ phía đầu mối hay đại lý chung quy đều nằm ở chữ "lỗ", hay chính là những bất cập của việc thị trường hóa nửa vời hiện nay. Rốt cục, chỉ người tiêu dùng chịu thiệt thòi nhất.

Chia sẻ cùng bạn về Internet Việt Nam: Tìm hướng đi riêng

Vì vậy, cụm từ thường được nhắc đến trong thị trường Internet hiện nay là “mô hình kinh doanh” hơn là “sản phẩm”. Xét về mô hình kinh doanh thì VC Corp đang là hình mẫu với hệ sinh thái sản phẩm trải dài (hơn 55 sản phẩm đang chạy, trong đó nhiều sản phẩm đang đứng đầu thị trường ngách) và nguồn thu đa dạng (từ người dùng, quảng cáo hay các mảng khác).
Nếu như thị trường Internet Việt Nam 10 năm trở lại đây chủ yếu chứng kiến làn sóng nội địa hóa các trào lưu của thế giới thì nay, các doanh nghiệp Internet lại âm thầm mở những lối đi riêng.
Làm một tổng kết nhỏ, chúng ta sẽ thấy hơn 10 năm trở lại (từ 2000 đến nay) hầu hết các sản phẩm Internet tại Việt Nam được tạo ra theo trào lưu sao chép từ làn sóng quốc tế. Các sản phẩm khi vừa thành công trên thế giới thường sẽ có ít nhất 20-30 phiên bản tại Việt Nam.
Việc sao chép này diễn ra một cách máy móc và gần như nhắm mắt làm sản phẩm trước khi kịp nghĩ cách vận hành và kiếm tiền. Kết quả chung của các sản phẩm như vậy hầu như không thể tồn tại lâu dài.
10 năm chạy theo thế giới
Những trường hợp đem chuông người về đánh xứ ta không thành công có thể kể đến Cyworld.vn (phiên bản tiếng Việt của Cyworld.co.kr, mạng xã hội được 95% dân số lứa tuổi từ 18-30 của Hàn Quốc sử dụng), Zing Chat (phiên bản của QQ Chat).
Bên cạnh đó là mạng liên kết Orkut (một trong những sản phẩm hiếm hoi được Google quảng bá rộng rãi tại Việt Nam) và Yahoo! Plus, người thừa kế gia tài bloggers khổng lồ của Yahoo! 360o.
Sự ra đời của những diễn đàn và báo điện tử lớn vào đầu những năm 2000 có thể xem đã đánh dấu sự ra đời của thị trường Internet Việt Nam. Diễn đàn và cũng là một tờ báo không chính thức nổi tiếng nhất thời điểm đấy là diễn đàn Trí Tuệ Việt Nam (tiền thân của Trái Tim Việt Nam Online - ttvnol.com) với hơn 1 triệu thành viên.
Tiếp theo đó là sự ra đời của những tờ báo thuần mạng (không có bản in) là Vnexpress.net, Vietnamnet và Dantri. Đối chiếu với thế giới, lúc đó cũng là thời điểm bùng nổ của những website tin tức như Yahoo! News hay MSN.
Sau thị trường báo và diễn đàn là các trào lưu về giải trí như nghe nhạc online và chơi game. Năm 2003 đánh dấu sự ra đời của hàng loạt trang nghe nhạc lớn như Yeuamnhac.com và Nhacso.net. Năm 2004, VinaGame (tiền thân của VNG) mang về Võ Lâm Truyền Kỳ, game online chính thức đầu tiên của Việt Nam.
Nhưng nóng nhất chính là làn sóng mạng xã hội, bắt đầu với sự bùng nổ của Yahoo! 360o (2004-2007). Sau khi Yahoo! 360o đóng cửa và Yahoo! Plus thất bại trong việc thừa hưởng nền tảng người dùng, hàng loạt mạng nội địa xuất hiện.
Lúc đó, hai mạng xã hội đình đám nhất trên thế giới là Myspace (Mỹ) và Cyworld. Khi đó, tại Việt Nam có hai nhóm mạng xã hội: thuần nội dung (blog) gồm có Yobanbe, Yume và mạng tích hợp chức năng gồm có mạng nghe nhạc YAN 2.0 và Cyworld.vn.
Song song với trào lưu mạng xã hội là trào lưu thương mại điện tử với sự ra mắt của Vatgia, Chodientu bên cạnh những trang kinh doanh trực tuyến gạo cội như 5giay, 123mua. Đi kèm với thương mại điện tử là các công ty thanh toán trực tuyến như MX, Vinapay, Mobivi, Nganluong.
Giai đoạn 2008-2011 là thời kỳ của trào lưu cộng đồng “ngách”. Có thể nhắc đến Tinhte.vn trong mảng điện thoại, máy tính xách tay, Webtretho trong mảng mẹ và bé, Otosaigon trong mảng xe hơi và đình đám nhất là IDG Venture đầu tư vào Noi.vn (mạng xã hội hẹn hò).
Mô hình thay cho sản phẩm
Sau hơn 10 năm phát triển, đã xuất hiện những công ty đủ kinh nghiệm hay những tập đoàn nước ngoài đang toan tính những bài toán dài hơi hơn trên thị trường Internet Việt Nam.
Những thất bại triệu đô như Timnhanh, Cyworld đã một lần nữa khẳng định lại một điều: bất kỳ sản phẩm nào muốn tồn tại đều phải phù hợp với tâm lý và hành vi người tiêu dùng Việt Nam. Xa hơn nữa là phải phù hợp với mô hình kinh doanh và chuỗi giá trị của công ty chủ quản. Những trường hợp đầu tư ra ngoài giá trị lõi của doanh nghiệp đều ít nhiều gặp khó khăn và cũng có không ít thất bại, như trường hợp Zing Deal của VNG.
Vì vậy, cụm từ thường được nhắc đến trong thị trường Internet hiện nay là “mô hình kinh doanh” hơn là “sản phẩm”. Xét về mô hình kinh doanh thì VC Corp đang là hình mẫu với hệ sinh thái sản phẩm trải dài (hơn 55 sản phẩm đang chạy, trong đó nhiều sản phẩm đang đứng đầu thị trường ngách) và nguồn thu đa dạng (từ người dùng, quảng cáo hay các mảng khác).
Thương mại điện tử vẫn là một mảng đầy tiềm năng với sự tham gia của Rocket Internet, MJ Group (công ty sở hữu diadiem.com và Nhommua.com), VNG, VC Corp hay cả những nhà bán lẻ truyền thống là Nguyễn Kim, Thế Giới Di Động và sắp tới là FPT Online và FPT Trading.
Trong khi Rocket Internet khuấy động thị trường với 2 sản phẩm là Zalora (thời trang cao cấp) và Lazada (đồ điện tử, gia dụng và mỹ phẩm) thì MJ Group lặng lẽ thử nghiệm Zap.vn (bán đồ điện tử), VNG làm lại 123mua.vn với thương hiệu mới là 123.vn còn FPT Online chuẩn bị ra mắt Sendo.vn.
Về trào lưu mua theo nhóm (groupon), các công ty trong top 5 (nhommua, cungmua, muachung, hotdeal và cucre) tập trung nhiều vào việc tối ưu hóa bộ máy vận hành. Muachung.vn (thuộc VC Corp) và Hotdeal.vn (thuộc Vinabook) đang xem xét việc chuẩn hóa bộ phận giao nhận và cung cấp dịch vụ ra bên ngoài, như một động thái để cắt giảm chi phí vận hành. Nhommua với đội ngũ marketing hơn 50 người đang tiến đến việc chia sẻ nguồn lực này cùng các công ty anh em: Zap.vn (bán hàng điện tử) và Hungry.vn (đặt thức ăn online).
Tối ưu hóa nguồn lực và tăng hiệu quả quảng cáo cũng là mảng được các công ty đa sản phẩm như VC Corp hay FPT Online quan tâm. Admicro, đơn vị bán quảng cáo của VC Corp, liên tục đưa ra các định dạng quảng cáo mới dựa trên số lần hiển thị hay số lần click chuột. FPT Online cũng chuẩn bị trình làng hệ thống quảng cáo liên thông Eclick như một đối trọng với Admicro.
Nhiều dự án và sản phẩm đã và đang được thai nghén, những cơ hội mới được mở ra. Tuy nhiên, đau đầu nhất là vấn đề nhân sự. Tại một buổi hội thảo, ông Lê Hồng Minh, Giám đốc VNG và ông Vũ Hồng Quang, đại diện miền Nam của VC Corp, cũng chia sẻ quan điểm rằng họ cũng như đa số các công ty Internet khác sẽ tập trung vào mảng phục vụ người dùng cuối, chứ không tập trung vào mảng phục vụ doanh nghiệp. Lý do được đưa ra là sẽ tận dụng tốt hơn những nhân sự có chất lượng để tạo ra sản phẩm đại chúng, trong khi thiếu hụt nhân sự am hiểu về tiếp thị số.
Tóm lại, có thể dự đoán thị trường Internet Việt Nam năm 2012 và sắp tới sẽ không còn thị trường một người thắng, mà sẽ phân chia thành nhiều thị trường ngách. Thấp thoáng đã thấy những sản phẩm tiếp thu có chọn lọc như giaytot.com, biaki.com, tiki.vn. Điều đó cũng mang lại ít nhiều hy vọng về sự phát triển một sản phẩm chuyên biệt cho người Việt.

Tìm hiểu về đằng sau những vé máy bay giá rẻ

Tuy nhiên, những mức giá này cũng không gây sốt với khách hàng so với những năm trước bởi ngay cả trong dịp không giảm giá vào cuối tháng 8 này, khách hàng hoàn toàn có thể mua được vé Hà Nội - TP Hồ Chí Minh với giá khoảng 1,2 triệu đồng đã bao gồm cả thuế và phí. Và cùng hành trình này, chỉ với 1,3 đến 1,5 triệu, khách cũng có thể mua được vé của hãng hàng không quốc gia mà không mang tiếng "đi vé máy bay giá rẻ".
...Là sự lo ngại về sự suy giảm thị trường không chỉ của những hãng hàng không non trẻ như AirMekong, Vietjet Air... mà còn là của đại gia Vietnam Airlines đang nắm trên 70% thị phần.
Đồng loạt khuyến mãi khủng
Khoảng 3 năm trở lại đây, khách hàng được hưởng những đợt giảm giá rất lớn của Hãng hàng không quốc gia (VNA). Theo hãng này tự nhận, hàng trăm nghìn vé máy bay giảm tới 50% đã được bán ra hàng năm. Những đợt giảm giá diện rộng của VNA không chỉ kéo theo sự kích cầu đi lại bằng đường hàng không mà còn khiến các hãng còn lại "lên cơn sốt".
Indochina Airlines - hãng đã phải dừng bay sau hơn 1 năm khai thác, đã từng than rằng giá vé không thể đẩy lên như dự kiến bởi sức ép cạnh tranh trên thị trường quá lớn.
Jetstar Pacific với lợi thế vốn có của hãng hàng không giá rẻ cũng phải thừa nhận khó chịu đựng nổi những đợt giảm giá ào ạt của "anh cả". Vé bán ra thu không đủ bù chi phí, không được như dự tính cùng với nhiều yếu tố khác trong quản lý điều hành khiến hãng này liên tục lỗ trong vài năm trở lại đây và chắc chắn tiếp tục lỗ không dưới 9 triệu USD trong năm 2012.
Mới tham gia thị trường, để khẳng định lợi thế giá vé rẻ cho nhiều người cùng bay, Vietjet Air cũng đã tung ra không ít đợt khuyến mãi với mức giá siêu rẻ 19 nghìn đồng hoặc từ 350 tới 900 ngàn đồng cho các chặng bay trong nước.
Ngay khi Vietjet Air tăng tần suất khai thác, VNA cũng tung ra chiến dịch khuyến mãi mùa thu với 300 nghìn vé có mức giá một chiều trên các chặng nội địa chỉ còn từ 550 nghìn đến 950 nghìn đồng chưa kể thuế và phí.
Tuy nhiên, những mức giá này cũng không gây sốt với khách hàng so với những năm trước bởi ngay cả trong dịp không giảm giá vào cuối tháng 8 này, khách hàng hoàn toàn có thể mua được vé Hà Nội - TP Hồ Chí Minh với giá khoảng 1,2 triệu đồng đã bao gồm cả thuế và phí. Và cùng hành trình này, chỉ với 1,3 đến 1,5 triệu, khách cũng có thể mua được vé của hãng hàng không quốc gia mà không mang tiếng "đi vé máy bay giá rẻ".
Không quảng bá rầm rộ về các chương trình khuyến mại nhưng Air Mekong và Jetstar Pacific cũng lặng lẽ điều chỉnh giá vé ở mức có thể chấp nhận được với khoảng cách chênh lệch với giá thấp nhất của VNA chỉ 300 - 600 ngàn đồng.
Giá vé hợp lý của Vietjet Air khiến lượng khách của hãng không ngừng tăng
Sẽ tiếp tục những báo cáo kinh doanh thua lỗ?
Lý giải cho một chính sách giá vé linh hoạt chưa từng có so với trước đây, lãnh đạo VNA cho biết, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng trên cả đường bay quốc tế lẫn nội địa. Nhiều đường bay quốc tế của hãng bị ảnh hưởng vì yếu tố chính trị, kinh tế toàn cầu cũng như sự xuất hiện các hãng cạnh tranh mới.
Thay vì trông chờ doanh thu từ thị trường quốc tế bù đắp cho các đường bay trong nước thua lỗ, VNA buộc phải nâng hiệu quả khai thác trên các tuyến nội địa. Trước mắt bằng việc điều chỉnh lại sản phẩm, giảm tần suất trên các chuyến ít khách, điều hành linh hoạt khi thị trường suy giảm.
Hãng đã tận dụng tối đa cơ hội thị trường trong mùa cao điểm tháng 7, tháng 8 này để tăng nguồn thu với các chính sách giá hết sức cạnh tranh so với các đối thủ còn lại.
Trong một báo cáo mới đây, VNA đánh giá hết năm nay, sản lượng vận chuyển nội địa của hãng giảm tới 7,5% so với kế hoạch đầu năm và chỉ giữ được ở mức cao hơn cùng kỳ năm 2011.
Thực tế là với sự gia tăng tàu bay của Vietjet Air và thị trường giảm hơn 2,6% trong 6 tháng đầu năm đã khiến lượng khách nội địa của VNA chỉ đạt 5,8 triệu khách, bằng 96% kế hoạch. Với thị trường suy giảm so với dự báo, khó khăn càng đè nặng lên các hãng hàng không mới gia nhập thị trường.
Air Mekong quyết định thuê thêm tàu bay A320 để tăng năng lực khai thác trên các đường trục thay cho việc chỉ sử dụng tàu bay Bombadier hiện nay. Vietjet Air cũng đang phải gánh nhiều chi phí do mở đường bay mới. Jetstar Pacific lỗ lũy kế chưa thể tháo gỡ dù đã được SCIC bàn giao lại cổ phần cho Vietnam Airlines. Đến thời điểm này, có thể nói, bức tranh tài chính của các hãng hàng không Việt trong năm 2012 sẽ tiếp tục ảm đạm.

Chân thực vụ việc phá giá điện thoại quốc tế: Thiệt đủ đường

Theo quy định của Bộ TT-TT, mức giá cho dịch vụ VoIP quốc tế chiều về là 855 đồng/phút và hành vi bán dưới 15% mức giá này là phá giá và sẽ bị xử lý. Tuy nhiên, hiện nay, giá dịch vụ VoIP quốc tế chiều về của nhà mạng trong nước đã giảm xuống còn 2,65 cent/phút (khoảng 560 đồng/phút). Trong khi đó, mức cước mà người Việt Nam hoặc người nước ngoài gọi đến Việt Nam từ nước ngoài vẫn phải trả trung bình 1 USD/phút, thậm chí có nước “chặt” 2-3 USD/phút.
Việc phá giá điện thoại quốc tế chiều gọi về đang gây thiệt hại cho cả Nhà nước, doanh nghiệp, trong khi người tiêu dùng cũng chẳng được hưởng lợi.
Theo thông tin từ Bộ Thông tin và Truyền thông (TT-TT), Bộ này đang có kế hoạch thanh tra việc kinh doanh dịch vụ kết nối điện thoại (di động, cố định…) quốc tế chiều về Việt Nam (VoIP quốc tế chiều về) của các doanh nghiệp viễn thông (gọi tắt là nhà mạng). Việc thanh tra này nhằm chấn chỉnh tình trạng nhà mạng đua nhau phá giá cước VoIP quốc tế chiều về gây thiệt hại cho chính các doanh nghiệp lẫn xã hội.
Làm khó nhà mạng nhỏ
Dịch vụ VoIP quốc tế chiều về từng được xem là nguồn thu béo bở của các nhà mạng vì đầu tư ít, nguồn thu cao. Nhiều nhà mạng còn “bán cái” dịch vụ này cho doanh nghiệp nước ngoài để ngồi không thu chênh lệch. Vì vậy, nhiều nhà mạng lớn đã đua nhau phá giá VoIP quốc tế chiều về để thu hút nhà mạng nước ngoài chuyển lưu lượng vào mạng của mình.
Trước thực trạng này, cơ quan quản lý Nhà nước đã phải ra chế tài ngăn chặn. Theo đó, một số nhà mạng có dịch vụ VoIP quốc tế chiều về đã phải ngồi lại tìm cách “liên thủ” để tránh rơi vào cảnh “cạnh tranh thái quá, cả nhà cùng khổ”. Tuy nhiên, vì lợi ích riêng, thay vì bắt tay nhau, các nhà mạng lại đua nhau phá giá.

Theo quy định của Bộ TT-TT, mức giá cho dịch vụ VoIP quốc tế chiều về là 855 đồng/phút và hành vi bán dưới 15% mức giá này là phá giá và sẽ bị xử lý. Tuy nhiên, hiện nay, giá dịch vụ VoIP quốc tế chiều về của nhà mạng trong nước đã giảm xuống còn 2,65 cent/phút (khoảng 560 đồng/phút). Trong khi đó, mức cước mà người Việt Nam hoặc người nước ngoài gọi đến Việt Nam từ nước ngoài vẫn phải trả trung bình 1 USD/phút, thậm chí có nước “chặt” 2-3 USD/phút.
Ngược lại, cước bình quân kết nối từ Việt Nam đi 20 quốc gia khác mà nhà mạng trong nước phải trả cho nhà mạng nước ngoài là 5,4 cent/phút, thậm chí nhiều nước cao hơn như Philippines là 11,7 cent/phút, châu Âu là 10 cent/phút.
Theo nhận định của giới chuyên môn, việc đua nhau phá giá VoIP quốc tế chiều về đã làm nhiều nhà mạng nhỏ lâm vào khó khăn do giá bán quá thấp.
Sẽ xử nghiêm vi phạm
Thứ trưởng Bộ TT-TT Lê Nam Thắng cho biết chủ trương của Bộ TT-TT là quản lý bằng cơ chế thị trường, tránh can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính. “Tuy giá bán dịch vụ do doanh nghiệp tự quyết định nhưng không được bán dưới giá thành” - ông Thắng nói.
Thiệt hại 43 triệu USD/năm
Theo số liệu dịch vụ VoIP quốc tế chiều về của Bộ TT-TT, tổng lưu lượng gọi về Việt Nam bình quân khoảng gần 250 triệu phút/tháng. Nếu các nhà mạng giữ đúng mức giá 4,1 cent/phút theo quy định của Bộ TT-TT, mỗi năm các nhà mạng thu về 123 triệu USD. Song thực tế, với mức giá chưa đến 2,7 cent/phút, số ngoại tệ thu về chỉ được gần 80 triệu USD, gây thiệt hại cho cả doanh nghiệp lẫn Nhà nước.
Hiện cả nước còn 5 doanh nghiệp cung cấp VoIP quốc tế chiều về là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - VNPT (có 3 doanh nghiệp trực thuộc cung cấp dịch vụ là VTI, VASC, VDC), Viettel, Hanoi Telecom, CMC, FPT Telecom.
Thứ trưởng Lê Nam Thắng còn khẳng định hiện các văn bản pháp quy quản lý kinh doanh dịch vụ VoIP quốc tế chiều về đã khá chặt chẽ. Song thực tế, hầu hết nhà mạng lại không nghiêm túc thực hiện các quy định này. Vì vậy, Cục Viễn thông (Bộ TT-TT) phải có trách nhiệm giám sát và đề xuất xử lý nếu có sai phạm. “Bộ TT-TT sẽ chỉ đạo Cục Viễn thông thanh tra, kiểm tra việc kinh doanh dịch vụ VoIP quốc tế chiều về trong thời gian sớm nhất. Căn cứ vào mức độ vi phạm của các doanh nghiệp để xử lý. Trong trường hợp cần thiết có thể thu hồi giấy phép” – ông Thắng quả quyết.
Còn theo tin từ Cục Viễn thông, cơ quan này vừa gửi văn bản yêu cầu tất cả các doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ VoIP quốc tế chiều về phải báo cáo tình hình kinh doanh dịch vụ này. Bên cạnh đó, Cục Viễn thông cũng yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông cùng cơ quan này giải quyết triệt để việc bán phá giá dịch vụ VoIP quốc tế chiều về ngay trong tháng 9/2012.

Chia sẻ cùng bạn tin doanh nghiệp FDI: "Không từ mà biệt"

Nghịch lý ở đây là tình trạng DN “ngoài vùng phủ sóng” ngày một gia tăng nhưng quy định xử lý vẫn chưa có, dù trước đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã “đánh tiếng”, biện pháp xử lý sẽ được quy định rõ tại Nghị định thay thế Nghị định 108/2006/NĐ-CP, dự kiến sẽ hoàn thành
hồi cuối 2011.

Công ty Fine Decor vừa được xử lý trong năm 2011
Tính từ năm 2008, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai (DIZA) đã 6 lần kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xin ý kiến về việc giải quyết các trường hợp DN FDI vắng chủ, nhưng vẫn chưa được hướng dẫn.
Theo rà soát của DIZA, trong tổng số 852 dự án FDI đăng ký hoạt động tại 31 KCN của tỉnh, đã có đến 66 dự án ngưng hoạt động; trong đó, tính đến cuối tháng 7/2012, có 42 dự án vắng chủ, với vốn đăng ký hơn 141 triệu USD và trên 3.000 lao động làm việc.
Nếu so với con số hồi tháng 4/2011 mà DIZA báo cáo lên Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì số DN vắng chủ đã tăng thêm 22 DN và vốn là 103 triệu USD. Xét về cơ cấu, nhà đầu tư có quốc tịch châu Á chiếm đa số, với vốn đăng ký từ vài chục ngàn USD đến dưới 10 triệu USD. DN vắng chủ ở đây được hiểu là dự án gắn với DN có tư cách pháp nhân, Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy đăng ký kinh doanh.
Hiện nay, phía Ban Quản lý không thể liên lạc được với chủ đầu tư và người có thẩm quyền để giải quyết các vấn đề liên quan của DN. Thậm chí, nhiều dự án có chủ “nằm ngoài vùng phủ sóng” từ năm 2004 nhưng đến nay chưa thể giải quyết dứt điểm.
Đối với DN dạng này, chuyện “không từ mà biệt” cũng “muôn hình vạn trạng”. Còn nhớ, năm 2011, trường hợp của Công ty TNHH Fine Decor (Hàn Quốc), với tổng số vốn đăng ký 1,25 triệu USD, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất ván MFC tại KCN Long Bình (TP.Biên Hòa) từ năm 2004.
Trong quá trình sản xuất, công ty có vay vốn từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Đồng Nai. Do đó, khi DN này ra đi, theo phán quyết của tòa án, phía ngân hàng sẽ đứng ra thanh lý tài sản và các khoản nợ của công ty. Dù trước khi ra đi (năm 2009 kéo dài đến 2011 mới có hướng xử lý), Fine Decor đã thanh lý hợp đồng thuê đất với Công ty Phát triển hạ tầng KCN Long Bình và nghĩa vụ với người lao động nhưng vẫn còn nợ Cục Thuế và Hải quan Đồng Nai số tiền lên tới 800 triệu đồng.
Trong khi đó, tại kiến nghị mới đây, ông Võ Thanh Lập, Trưởng ban DIZA cũng đề cập đến trường hợp DN trúng đấu giá tài sản của DN vắng chủ (do ngân hàng phát mãi) nhưng không thể thực hiện đăng ký kinh doanh được, do pháp nhân cũ vẫn còn thi hành những nghĩa vụ khác nên cũng đành “ngậm ngùi” nhìn tài sản bị lãng phí (đất đai, nhà xưởng).
Cụ thể như trường hợp Công ty TNHH Xây dựng Nội thất Số 7 mua nhà xưởng của Công ty TNHH Đông Nam (KCN Biên Hòa II) từ Công ty CP Vĩnh Phú. Trước đây, Vĩnh Phú mua nhà xưởng của Đông Nam (Hàn Quốc, sản xuất tấm đệm cao su mũi giày) nhưng chưa hoàn thành thủ tục (chưa xác nhận hợp đồng) nên không đủ điều kiện để chuyển nhượng lại cho Công ty Nội Thất số 7.
Hơn nữa, Công ty Đông Nam bỏ về nước để lại khoản nợ thuế và bảo hiểm xã hội khoảng 307 triệu đồng và nợ Tổng công ty phát triển KCN Sonadezi 155.800 USD nên không thể xóa tên DN để cấp giấy chứng nhận đầu tư cho chủ đầu tư mới vào vị trí này.
Tình trạng DN “không từ mà biệt” cũng có nhiều lý do, DN làm ăn thua lỗ, phá sản; hoặc sau khi hoàn tất các hợp đồng gia công, họ sẽ âm thầm bỏ về nước.
Tuy nhiên, nguyên nhân được nói đến nhiều nhất là các thủ tục phá sản, giải thể của Việt Nam quá rườm rà (ở khâu quyết toán thuế và khâu thụ lý đơn phá sản của DN ở tòa án), không ít trường hợp trong số 42 DN vắng chủ không thể “kiên nhẫn” chờ giải quyết nên đã bỏ về nước. 
Nghịch lý ở đây là tình trạng DN “ngoài vùng phủ sóng” ngày một gia tăng nhưng quy định xử lý vẫn chưa có, dù trước đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã “đánh tiếng”, biện pháp xử lý sẽ được quy định rõ tại Nghị định thay thế Nghị định 108/2006/NĐ-CP, dự kiến sẽ hoàn thành
hồi cuối 2011.
Theo luật sư Nguyễn Hữu Phước, Công ty Luật Phước và các cộng sự (P&P), chuyện DN FDI vắng chủ không phải là câu chuyện quá mới nhưng trong thời điểm kinh tế khó khăn thì tình trạng này sẽ diễn ra ngày càng nhiều và phổ biến, gây hậu quả không những cho nền kinh tế mà còn tác động tiêu cực đến xã hội dưới góc độ lao động và việc làm.
“Hiện, Điều 71 của Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 108/2006/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư) đã có hướng mở cho những vấn đề này. “Nếu những quy định này sớm được ban hành và có hiệu lực thi hành thì khi chủ DN bỏ trốn, cơ quan Nhà nước có hành lang pháp lý rõ ràng để nhanh chóng giải quyết dứt điểm những tồn đọng của DN đó và giao đất, dự án đầu tư dang dở cho các nhà đầu tư khác”, luật sư Phước nói.

Tìm hiểu vấn đề chăn nuôi: Giống của ngoại, vốn của người

Nhưng “bành trướng” mạnh nhất vẫn là công ty CP Chăn nuôi CP Việt Nam (CP). Mới đây, CP đã lên kế hoạch xây dựng chuỗi 10.000 điểm bán lẻ, cửa hàng trên cả nước cung cấp thực phẩm sạch. Chiến lược của CP là sẽ hợp tác với những đối tác, nhà người dân có mặt bằng đẹp để xây dựng cửa hàng. Công ty sẽ cung cấp nguồn nguyên liệu và chỉ dẫn hình thức kinh doanh, bảo đảm chế biến.
Giữa tháng 8 này, Tập đoàn Japfa Comfeed Vietnam đã đưa vào hoạt động Công ty Di truyền giống Japfa Hypor (liên doanh với Hà Lan) và trại heo giống cụ kỵ tại Long An. Chỉ riêng trại heo giống, nhà đầu tư đã đầu tư tới 5 triệu USD.
Trong tháng 9 tới, khi chính thức hoạt động, công ty này sẽ nhập khẩu khoảng 700 con giống từ Canada và Pháp với trị giá khoảng 1,5 triệu USD để khai trương hoạt động của trại heo.
Mục tiêu của việc xây dựng trại giống này, là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt heo chất lượng cao tại thị trường nội địa, cũng như phục vụ mục tiêu xuất khẩu thịt heo Việt Nam trong tương lai gần.
Tập đoàn Japfa Comfeed (100% vốn của Indonesia) sau khi vào Việt Nam đầu tư từ năm 1995 đến nay đã có hơn với 5 nhà máy thức ăn chăn nuôi, 1 công ty di truyền giống, hơn 20 trại heo bố mẹ, cụ kỵ và hàng trăm trang trại heo và trang trại gà, nhà máy giết mổ. Chưa kể, cùng với CP và Emivest, Japfa còn chiếm phần lớn thị trường gà giống công nghiệp, thị trường gà thịt công nghiệp.
Nhưng “bành trướng” mạnh nhất vẫn là công ty CP Chăn nuôi CP Việt Nam (CP). Mới đây, CP đã lên kế hoạch xây dựng chuỗi 10.000 điểm bán lẻ, cửa hàng trên cả nước cung cấp thực phẩm sạch. Chiến lược của CP là sẽ hợp tác với những đối tác, nhà người dân có mặt bằng đẹp để xây dựng cửa hàng. Công ty sẽ cung cấp nguồn nguyên liệu và chỉ dẫn hình thức kinh doanh, bảo đảm chế biến.
Riêng lĩnh vực cung cấp thức ăn chăn nuôi, tốc độ đua tranh của các doanh nghiệp nước ngoài đang diễn ra rất mạnh mẽ. Chỉ trong tháng 6 vừa qua, Công ty CP đã cho khởi công xây dựng nhà máy mới ở Bình Định có công suất 216.000 tấn sản phẩm/năm, tổng vốn đầu tư hơn 416 tỷ đồng. Công ty TNHH New Hope (Trung Quốc) cũng xây dựng thêm một nhà máy sản xuất cũng tại Bình Định.
Trước đó, Công ty TNHH Cargill Việt Nam đã khánh thành nhà máy sản xuất thứ 9 tại Việt Nam với công suất 240.000 tấn/năm, đưa tổng công suất sản xuất của công ty lên 1 triệu tấn/năm. Công ty này dự định đến năm 2015 sẽ nâng tổng công suất sản xuất lên 1,5 triệu tấn...
Không chỉ thức ăn gia súc, gia cầm, mà thức ăn cho chăn nuôi thủy sản cũng đang bị các doanh nghiệp ngoại nắm thị phần chi phối. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), các công ty như: Uni President, CP, Grobest, TomBoy đang nắm trong tay tới 95% thị phần thức ăn cho tôm. Bên thức ăn cho cá tra thì Cargill, Green Feed, Proconco, Anova… chiếm thị phần cũng trên 60%.

Khám phá sự việc điện thoại thương hiệu Việt: Tái chiến


Theo ông Hòa, dù sản phẩm smartphone khá nhộn nhịp nhưng phân khúc giá từ trên 1 triệu đến 4 triệu đồng vẫn còn trống khá nhiều do các thương hiệu lớn vẫn còn chạy theo những dòng sản phẩm trung, cao cấp. Do vậy, những thương hiệu bắt kịp xu hướng smartphone sẽ “sống”. Q-Mobile, Mobiistar... đang làm rất tốt điều này.

Qua giả lập, đánh trực tiếp
Không hẹn mà gặp, các thương hiệu điện thoại Việt là Q-mobile và Mobistar đều lần lượt đưa ra thị trường dòng smartphone (điện thoại thông mình) với giá bán có thể xem là phá kỷ lục. Với mức giá chỉ 1,9 triệu đồng, tặng kèm thẻ nhớ 4GB, Q-mobile S11 là sản phẩm tiên phong trong xu hướng phổ cập hóa smartphone Android cho người dùng.
FPT cũng có những smartphone chạy Android tích hợp Wi-Fi hoặc 3G ở mức giá trên 2,5 triệu đồng. Mobistar không kém cạnh khi trình làng dòng sản phẩm Mobistar Touch S01 với giá khoảng 2,7 triệu. Ngay cả khi đã có Touch S01 (chạy Android với kết nối 3G + Wi-Fi) với giá rất hợp lý, Mobiistar vẫn đưa ra một mẫu Touch S02 chạy android với kết nối wifi, giá bán lẻ chỉ hơn 1,7 triệu đồng. Với giá này cách đây nửa năm, người tiêu dùng phải bằng lòng với 1 chiếc điện thoại feature phone.

Ông Ngô Nguyên Kha, CEO của Mobiistar cho biết: “Cách đây 1 năm, chúng tôi đã nghiên cứu kỹ thị trường điện thoại và nhận ra rằng, sớm hay muộn, smartphone sẽ trở nên rất phổ biến trong thời gian tới, khi giá cả để sở hữu 1 chiếc smartphone không còn quá đắt”. Theo ông Kha, Touch S01 tiêu thụ khá tốt, số lượng bán ra giúp Mobiistar đủ để cân đối chi phí hoạt động trong thời buổi kinh tế đang khó như hiện nay.
Do đó, trong tháng 8, Mobiistar cũng đã đưa ra giới thiệu Touch S03 với trải nghiệm tốt hơn Touch S01, giá bán lẻ dự kiến dưới 3 triệu - màn hình 4.0 inch. Tuy nhiên, sản phẩm đặc biệt cho tháng 9 là KEM 430, chạy hệ điều hành Icecream Sandwich với màn hình 4.3.

“Trước khi đưa ra smartphone, chúng tôi phải thử với phân khúc “pre-smartphone”, nghĩa là giả lập các tính năng smartphone trên các điện thoại thường, dành cho người tiêu dùng chưa đủ điều kiện tiếp dùng và dùng smartphone thực sự vừa tránh được cạnh tranh trực diện với ông lớn đang tìm kiếm cơ hội ở phân khúc giá thấp, vừa chuẩn bị cho mình vốn hiểu biết đối tượng khách hàng mới”, ông Kha tiết lộ.
Cách làm này cũng được những thương hiệu khác nhận ra và tham gia nhiệt tình. Họ phải tính toán để sản phẩm này đáp ứng nhu cầu của người dùng đầy đủ, không thiếu gì cho một người dùng vừa chuyển sang dùng smartphone, nhưng không thừa gì để làm đội giá thành sản phẩm. Và thế mạnh cạnh tranh của những smartphone thương hiệu Việt chính là ứng dụng bản địa. 

Cụ thể, Q-Store với 10.000 nội dung thuần Việt. Những tiện ích phổ biến trong giới trẻ Việt Nam như Nhaccuatui.com được tích hợp sẵn trong máy.

Hai chân vẫn chưa chắc

Không chỉ nhà sản xuất đón đầu làn sóng smartphone, các nhà bán lẻ cũng không bỏ qua cơ hội để cải thiện tình hình. Tiên phong trong việc đón đầu xu hướng smatphone là Viễn Thông A với mô hình eBar - trung tâm trải nghiệm smartphone vào đầu năm 2012.
Từ tháng 8, Viễn thông A ra mắt đồng loạt các trung tâm mới tại Đà Nẵng, Hà Nội và TP.HCM, hội tụ đầy đủ các thương hiệu có sản phẩm smartphone từ giá rẻ đến siêu cấp để khách hàng có thể tiếp cận, dùng thử và so sánh. Ông Bùi Văn Hòa, Phó tổng giám đốc Viễn Thông A cho biết, dù số lượng chỉ chiếm 21-25% nhưng doanh thu các cửa hàng từ smartphone đem lại lên đến 57%.
Riêng tại khu vực TP.HCM, doanh thu lên đến 69%. “Nhờ smartphone mà lợi nhuận của Viễn Thông A được cải thiện đáng kể. Trên 50% cơ cấu lợi nhuận là từ smartphone bởi giá trị sản phẩm rất cao”, ông Hòa tiết lộ.
Vì điều này mà đến cuối tháng 8, Viễn Thông A sẽ tổng lực triển khai 9 trung tâm và 17 cửa hàng smartphone trên tổng số 85 cửa hàng trên toàn quốc. Theo kế hoạch, từ đây đến cuối năm 2012, con số này sẽ tăng gấp đôi. 

Theo ông Hòa, dù sản phẩm smartphone khá nhộn nhịp nhưng phân khúc giá từ trên 1 triệu đến 4 triệu đồng vẫn còn trống khá nhiều do các thương hiệu lớn vẫn còn chạy theo những dòng sản phẩm trung, cao cấp. Do vậy, những thương hiệu bắt kịp xu hướng smartphone sẽ “sống”. Q-Mobile, Mobiistar... đang làm rất tốt điều này.
Tuy vậy, bức tranh này cũng sẽ có nhiều thay đổi bởi những ông lớn cũng đang nhăm nhe thị trường. Điển hình là Samsung đã bắt đầu đưa giá của Galaxy Y xuống tầm hơn 2 triệu để chinh phục khách hàng.
Ngoài ra, còn phải kể đến sự hiện diện của Huawei, một thương hiệu cũng khá mạnh đến từ Trung Quốc, đang nỗ lực để tiếp cận thị trường. “Smartphone có thể là giải pháp cho thương hiệu Việt.
Tuy nhiên, mỗi thương hiệu có mức độ sẵn sàng khác nhau khi nhập cuộc, cho nên cũng không hoàn toàn thuận lợi cho tất cả. Đồng thời, cũng không có gì bảo đảm là thị trường không lặp lại một lần nữa tình huống các ông lớn tham gia phân khúc giá rẻ. Cơ hội có, nhưng không quá nhiều và không chia đều cho tất cả”, ông Ngô Nguyên Kha khẳng định.

Khám phá câu chuyện: Niêm yết sàn ngoại: Chuông rè tắt tiếng xứ người

Gần đây, các hãng xếp hạng tín nhiệm uy tín thế giới như Standard & Poor’s (S&P), Fitch đồng loạt lên tiếng và cảnh báo vấn đề này. Giới đầu tư quốc tế vì vậy buộc phải cẩn trọng với trái phiếu HAGL phát hành. Không giành được sự quan tâm thực sự nên trái phiếu của HAGL ít có giao dịch. Niêm yết trên sàn ngoại nhưng không đạt được mục đích thanh khoản, HAGL chọn hướng hủy niêm yết là tất yếu.
Hoàng Anh Gia Lai: Tàu sớm hồi hương
Từng là một trong những cổ phiếu dẫn dắt VN-Index nhưng ngay cả đơn vị tư vấn Credit Suisse Singapore cũng khuyên Hoàng Anh Gia Lai nên sớm bỏ cuộc chơi tại sàn SGX của Singapore.
Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) thông báo từ trung tuần tháng 8 hủy niêm yết toàn bộ trái phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán Singapore (SGX). Mặc dù theo kế hoạch ban đầu, lượng trái phiếu trị giá 90 triệu USD của HAGL đến tận năm 2016 mới chính thức đáo hạn. Bất ngờ là chỉ sau 15 tháng ngắn ngủi du ký trên sàn ngoại, HAGL chấp nhận sớm dừng cuộc chơi.
Theo ông Nguyễn Văn Sự, Tổng giám đốc HAGL, có hai lý do chính dẫn đến việc trái phiếu hủy niêm yết tại SGX: Thứ nhất, lượng trái chủ nắm giữ trái phiếu không nhiều nên việc tiếp tục niêm yết không thực sự cần thiết. Thứ hai, việc hủy niêm yết sẽ giúp HAGL tiết kiệm được chi phí thường niên duy trì việc niêm yết.
Đề cập sâu hơn về vấn đề này, ông Võ Trường Sơn Phó tổng giám đốc Phụ trách vấn đề tài chính của HAGL cho biết, trái phiếu của HAGL phát hành đầu năm 2011. Số tiền được đầu tư cho các dự án thủy điện và cao su.
Theo kế hoạch ban đầu, HAGL kỳ vọng thu về 200 triệu USD. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế thế giới không thuận lợi, đặc biệt là do ảnh hưởng của sự kiện sóng thần tại Nhật Bản, nên lượng trái phiếu phát hành thành công chỉ tương ứng với 45% kỳ vọng ban đầu.
Dù vậy, thực hiện theo cam kết, HAGL vẫn đem trái phiếu niêm yết trên SGX. Thế nhưng, sau thời gian lên sàn, thanh khoản của trái phiếu không cao. Sau khi hội ý với đơn vị tư vấn là Credit Suisse Singapore Ltd., HAGL đi đến quyết định xin hủy niêm yết.
Việc trái phiếu của HAGL xuất ngoại được quan tâm bao nhiêu thì việc hủy niêm yết cũng được đem ra mổ xẻ kỹ càng bấy nhiêu. Bình luận về vấn đề này, ông Trịnh Thanh Cần, Giám đốc Tư vấn tài chính doanh nghiệp Công ty Chứng khoán TP.HCM, đánh giá:
“Nhiều khả năng trái chủ nắm giữ trái phiếu của HAGL là các khách hàng lớn của Credit Suisse. Vì vậy, khi định chế tài chính này đã tư vấn cho HAGL phát hành trái phiếu và niêm yết tại SGX thì họ cũng có thể đứng ra làm trung gian môi giới chuyển nhượng trái phiếu. Khi trái phiếu của HAGL có thanh khoản thấp, việc tiếp tục niêm yết không thật sự cần thiết”.
Một lãnh đạo của Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam đưa ra cách lý giải khác. Theo đó, HAGL phải trả cho người nắm giữ trái phiếu trái tức 9,875%/năm - chi phí vốn không hề thấp khi lãi suất cho vay USD tại nhiều nước phát triển nằm trong khoảng từ 4 - 5%/năm.
Theo vị này, định mức tín nhiệm của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn đến mức trái tức. Công ty càng được các tổ chức tín nhiệm quốc tế đánh giá cao bao nhiêu thì giới đầu tư quốc tế nhìn nhận độ rủi ro của các công cụ nợ thấp bấy nhiêu. Vì vậy, độ rủi ro và trái tức luôn tương quan tỷ lệ thuận cùng chiều. Rủi ro cao thì trái tức cao và ngược lại.
Trở lại trường hợp của HAGL, dù đã đầu tư mạnh mẽ và lấn sân sang nhiều lĩnh vực mới như khai thác mỏ, trồng cây cao su, mía đường, thủy điện nhưng trong năm 2012, nguồn thu chính vẫn phụ thuộc vào bất động sản. Với tình hình thị trường nhà đất trầm lắng, HAGL đối diện với rủi ro mất cân đối về dòng tiền.
Gần đây, các hãng xếp hạng tín nhiệm uy tín thế giới như Standard & Poor’s (S&P), Fitch đồng loạt lên tiếng và cảnh báo vấn đề này. Giới đầu tư quốc tế vì vậy buộc phải cẩn trọng với trái phiếu HAGL phát hành. Không giành được sự quan tâm thực sự nên trái phiếu của HAGL ít có giao dịch. Niêm yết trên sàn ngoại nhưng không đạt được mục đích thanh khoản, HAGL chọn hướng hủy niêm yết là tất yếu.
Cần nhắc lại là vào tháng 7 vừa qua, S&P hạ bậc tín nhiệm của HAGL khi cho rằng hoạt động kinh doanh của Công ty dễ bị tổn thương trước các rủi ro tài chính: HAGL mở rộng hoạt động sang trồng cây cao su và các dự án thủy điện khiến chi phí vốn tăng vọt song chưa có nguồn thu. Sự chậm trễ trong việc xin giấy phép khởi động các mỏ khai thác quặng sắt ở Lào và Campuchia cũng khiến rủi ro trong đầu tư của HAGL tăng lên.
Trước đó vào, đầu tháng 3 năm nay, tổ chức đánh giá tín nhiệm hàng đầu thế giới Fitch cũng đã điều chỉnh triển vọng tín nhiệm của HAGL từ mức ổn định xuống tiêu cực. Phản ứng trước các nhận định này, phía HAGL cho rằng các hãng xếp hạng tín nhiệm không cập nhật và theo sát tình hình tài chính của Công ty.
Tuy nhiên, báo cáo tài chính hợp nhất mới công bố cho thấy 6 tháng đầu năm 2012, lợi nhuận thuần của HAGL giảm tới 72% so với cùng kỳ. Một nửa niên độ tài chính đã trôi qua nhưng HAGL mới hoàn thành 18% kế hoạch lợi nhuận trước thuế.

Chia sẻ câu chuyện giỏi thợ còn hơn dở thầy

Đối với một số thị trường lân cận mạnh về công nghệ phần cứng như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, hầu hết đều bắt đầu xây dựng ngành công nghệ phần cứng từ công nghệ phụ trợ. Khi đã có một hệ thống phụ trợ vững mạnh, họ mới phát triển các sản phẩm thương hiệu nội địa. Trong khi đó, DN Việt Nam thì lại đi theo hướng ngược lại: phát triển sản phẩm hoàn chỉnh mà chưa có công nghệ phụ trợ.
“Cứng” toàn thân
Với doanh thu 11,3 tỷ USD, tăng 101% so với năm 2010, ngành công nghiệp phần cứng điện tử đã giúp doanh thu toàn ngành CNTT tăng ngoạn mục 79% trong năm 2011 so với năm 2010. Đến nay, công nghiệp phần cứng - điện tử đang chiếm 82% tổng doanh thu toàn ngành.
Ông Nguyễn Trọng Đường, Vụ trưởng Vụ Công nghệ Thông Tin, Bộ Thông tin và Truyền thông, đã nhận xét: “Sự tăng trưởng này là nhờ sự đóng góp doanh thu xuất khẩu của nhiều DN như: Samsung, Canon, Panasonic, Foxconn, Nokia... do đã hoàn thành xây dựng các nhà máy mới và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm phần cứng, điện tử”.
Tuy nhiên, trái với bức tranh sáng màu của khối DN FDI, các DN nội trong lĩnh vực phần cứng - điện tử đang dần trở nên hụt hơi. Trong tổng số 11,3 tỷ USD doanh thu của ngành phần cứng – điện tử, DN nội địa chỉ chiếm khiêm tốn khoảng 1 tỷ USD.
Liên quan đến vấn đề này, ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Tin học TP.HCM, nhận định: “Ngành phần cứng - điện tử vẫn tăng trưởng hằng năm nhưng đang trở thành sân chơi của riêng DN nước ngoài”. Theo ông Dũng, không như với các lĩnh vực khác, công nghệ phần cứng - điện tử đòi hỏi DN phải có đầu tư vốn lớn.
Trong những năm qua, khi nhu cầu về các sản phẩm công nghệ điện tử như máy tính xách tay, điện thoại, máy chụp ảnh... tăng trưởng mạnh, các DN FDI với lợi thế về vốn, đầu tư lớn, công nghệ và kinh nghiệm đã dần khẳng định vị thế so với các DN nội địa. Trong khi đó, nhiều DN nội yếu thế hơn, tỷ lệ nội địa lại thấp, đồng thời phải cạnh tranh với các thương hiệu trong bối cảnh kinh tế khó khăn, đã buộc phải chuyển hướng sản xuất và nhường “sân nhà” cho các DN FDI.
Mục tiêu 2015 có thể thất bại
Trong Báo cáo Xếp hạng doanh nghiệp CNTT năm 2011- 2012 được thực hiện trên 256 DN hàng đầu tại Việt Nam cho thấy, DN phần cứng có tỷ lệ tăng trưởng trung bình trong năm 2011 thấp thứ nhì (12%), chỉ hơn tích hợp hệ thống (6%) và đứng sau các ngành còn lại là phần mềm, nội dung số, đào tạo, internet và dịch vụ.
Nhìn trên bình diện rộng lớn hơn của tất cả các DN phần cứng - điện tử trong nước, thống kê chỉ 20% DN có lời trong năm 2011. Với thực tế này, ông Dũng thẳng thắn: “Mục tiêu của Chính phủ đến năm 2015, DN Việt Nam có đủ năng lực thiết kế, sản xuất thiết bị, chế tạo vi mạch tích hợp, làm chủ thiết kế và sản xuất được một số sản phẩm phần cứng mang thương hiệu Việt Nam có thể bị thất bại”.
Có ý kiến cho rằng, những kết quả đáng buồn của các nhà sản xuất phần cứng trong nước đáng lẽ ra đã được các nhà làm hoạch định chính sách nhìn thấy từ khi... Sony bỏ liên doanh với Công ty CP Điện tử Tân Bình năm 2008.
Khi Sony chuyển sang làm thương mại thay vì sản xuất màn hình tivi CRT, những cuộc lột xác về công nghệ tivi diễn ra mạnh mẽ và màn hình CRT nhanh chóng trở nên lỗi thời. Không chỉ vậy, trào lưu công nghệ còn diễn ra trên tất cả các lĩnh vực khác như máy tính, máy ảnh, điện thoại di động, chip... khiến cho hàng loạt DN trong nước có công nghệ lạc hậu phải đóng cửa; còn số khác vẫn cố gắng cầm cự và duy trì sản xuất nhưng không thể cạnh tranh với các công ty nước ngoài có công nghệ mới.
Trước tình hình DN trong nước chỉ còn một tỷ lệ thị phần nhỏ nhoi, nhiều ý kiến cho rằng, không còn cách nào khác là DN trong nước nên chuyển đổi hẳn sang làm công nghệ phụ trợ, sản xuất các thiết bị ngoại vi cho công ty nước ngoài, tham gia vào chuỗi công nghiệp liên kết toàn cầu của họ.
Đối với một số thị trường lân cận mạnh về công nghệ phần cứng như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, hầu hết đều bắt đầu xây dựng ngành công nghệ phần cứng từ công nghệ phụ trợ. Khi đã có một hệ thống phụ trợ vững mạnh, họ mới phát triển các sản phẩm thương hiệu nội địa. Trong khi đó, DN Việt Nam thì lại đi theo hướng ngược lại: phát triển sản phẩm hoàn chỉnh mà chưa có công nghệ phụ trợ.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Trọng Đường cũng cho rằng, DN nội địa nên tìm các khe hở của thị trường để phát triển các sản phẩm chuyên biệt: “Các nhà đầu tư FDI thường sản xuất các sản phẩm thông dụng với sản lượng lớn, đại trà cho nhiều quốc gia. Họ ít tập trung vào các phân khúc nhỏ, chỉ phục vụ cho một thị trường như thiết bị y tế chuyên dụng cho chỉ các bệnh viện ở Việt Nam. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể trở lại sân chơi được”.