Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

Thực trạng sự việc ngoại hối không đợi kiều hối

Theo TS. Phạm Trung Lương, Viện phó Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch, Việt Nam đầu tư cho du lịch sẽ không quá lớn nếu đầu tư đúng mức và có chiến lược về tổ chức và cơ sở thu hút chi tiêu du khách như hệ thống nhà hàng khách sạn resort, hệ thống vui chơi giải trí, lực lượng phục vụ và hỗ trợ du khách, sự liên kết và quảng bá du lịch Việt Nam ở nước ngoài...
Kiều hối đi đâu?

Năm 2010, với 8,26 tỷ USD, Việt Nam xếp hạng 9 trong số các quốc gia đang phát triển về nhận kiều hối. Năm 2011, kiều hối Việt Nam đạt mức kỷ lục 9 tỷ USD, bù đắp được 92% cán cân thương mại.
Vai trò của kiều hối càng thể hiện rõ khi góp phần khuấy động thị trường bất động sản với 4,7 tỷ USD. Thế nhưng, số liệu thống kê lượng kiều hối vào TP.HCM 6 tháng đầu năm 2012 đã thể hiện một dự báo một năm “mất mùa” kiều hối với 23% sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái.
Sự sụt giảm 500 triệu USD kiều hối của TP.HCM đã đưa đến hàng loạt những chính sách để “chống cạn” cho “kênh” kiều hối.

Nhiều ý kiến cho rằng, kiều hối đã phát huy vai trò xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy thị trường đầu tư, tăng trưởng các chỉ số giáo dục, tiêu dùng... Nhưng cũng có ý kiến chỉ ra vai trò xóa đói giảm nghèo, phúc lợi hộ gia đình (tiêu dùng, giáo dục, y tế...) của kiều hối là không đáng kể. Đa phần nhận kiều hối là các hộ gia đình khá giả nên họ sẽ dùng vào mục đích lâu dài như đất đai và nhà ở.
Thống kê cho thấy có đến 52% kiều hối (trong tổng sốâ 9 tỷ USD năm 2011) đã “chảy” vào thị trường bất động sản. Nhìn ở chiều ngược lại, ngoài sự lo sợ rủi ro đối với biến động kinh tế Việt Nam, nguyên nhân sụt giảm còn đến từ xu hướng định cư nước ngoài ngày càng tăng. 

Hiện tại, theo thống kê của Trang Di cư (Bộ Ngoại giao Việt Nam), cộng đồng Việt ở nước ngoài đã tăng hơn 4 triệu người học tập, sinh sống và làm việc trên 103 quốc gia và vùng lãnh thổ vừa đồng nghĩa với một tiềm lực kiều hối vừa thể hiện nguy cơ “mất” Việt kiều.
Từ góc độ rộng hơn, trong tương lai, dự đoán kiều hối trở nên mất ổn định là một dự đoán có căn cứ khi việc đầu tư nhà đất có xu hướng bão hòa đối với cộng đồng Việt kiều.

Ngoại tệ từ du lịch

Sáu kênh hút ngoại hối chính là: kiều hối, khách du lịch quốc tế, vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ nước ngoài, xuất khẩu và các kênh không chính thức khác. Trong khi ODA, FDI, xuất khẩu của Việt Nam vẫn đan gặp không ít khó khăn do niềm tin đầu tư vào Việt Nam gần đây bị suy giảm bởi các vấn đề nợ xấu, môi trường kinh doanh... thì du lịch được xem là lựa chọn tối ưu nhất.
Nếu kiều hối đóng góp 9 tỷ USD ngoại tệ thì du lịch đã đem về 110 ngàn tỷ đồng trong năm 2011 (tương đương 5,1 tỷ USD). So sánh tương quan giữa kiều hối và du lịch thì kiều hối có phần “thắng thế” khi du lịch cần nguồn vốn cao hơn. 

Tuy nhiên, trong dài hạn, du lịch có tiềm năng thu hút ngoại hối hiệu quả hơn kênh kiều hối đã bắt đầu “bão hòa”.
Thứ nhất, du lịch có ưu thế chủ động. Trong khi kiều hối đến Việt Nam để đầu tư sinh lợi và giúp đỡ thân nhân dài hạn thì chi tiêu cho du lịch để vui chơi giải trí trong ngắn hạn. Chính vì thế, chi tiêu cho du lịch sẽ dễ dàng và linh hoạt hơn nhiều hơn so với kiều hối.
Kế đến, sự đầu tư bằng kiều hối, đặc biệt là bất động sản thường là những khoảng tiền lớn và chục ngàn đến vài trăm ngàn USD, trong khi chỉ với vài ngàn USD là đã có thể có một chuyến du lịch thoải mái ở Việt Nam. Sự khác biệt về chi phí khiến cho việc chi tiêu du lịch dễ dàng hơn so với đầu tư bằng kiều hối.
Một điểm nữa là kiều hối chỉ đến từ kiều bào người Việt thì doanh thu từ du lịch đến từ số người nước ngoài đông đảo trên thế giới.
Cuối cùng, nếu tác động của kiều hối chỉ lên một số ngành và bộ phận dân cư thì du lịch có thể tạo công ăn việc làm, thúc đẩy các dự án đầu tư cả về chiều rộng lẫn chiều sâu hơn hăn kiều hối. 

Theo TS. Phạm Trung Lương, Viện phó Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch, Việt Nam đầu tư cho du lịch sẽ không quá lớn nếu đầu tư đúng mức và có chiến lược về tổ chức và cơ sở thu hút chi tiêu du khách như hệ thống nhà hàng khách sạn resort, hệ thống vui chơi giải trí, lực lượng phục vụ và hỗ trợ du khách, sự liên kết và quảng bá du lịch Việt Nam ở nước ngoài...
Đi cùng với đầu tư du lịch là đầu tư cho hệ thống đổi tiền chính thức cho du khách nước ngoài. Đây cũng là một biện pháp hay giúp thu hút đối đa ngoại hối, một mặt giúp khách nước ngoài an tâm về tỷ giá, mặt khác khuyến khích họ đổi sang đồng tiền địa phương để sử dụng. 

Như vậy, khi kiều hối không còn là giải pháp vững chắc cho nguồn cầu ngoại tệ thì du lịch hiện tại vẫn là đối tượng triển vọng cần được đầu tư và khai thác. Tuy nhiên, làm thế nào để du lịch thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn thì đó lại là một câu hỏi khác.

Tìm hiểu chi tiết về chính sách lủng củng - “tai nạn” của ngành ô tô

Trong lúc nền công nghiệp phụ trợ trong nước đang bị đánh giá là quá yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu cho các ngành công nghệ cao, cơ khí chính xác; trình độ công nghệ và quản lý còn lạc hậu và rất cần những cuộc chuyển giao từ các nhà đầu tư uy tín, thì sự lủng củng trong chính sách đang khiến các doanh nghiệp trong nước khó khăn càng thêm chồng chất khó khăn.
Triển vọng xán lạn gặp “rào”…
Vinaxuki đã và đang bỏ nhiều tiền bạc và công sức đầu tư cho một thương hiệu xe của người Việt
Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định 117/2004QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô đến năm 2010, tầm nhìn 2020 và Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt các ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn. Theo đó, ngành công nghiệp ô tô là một ngành được ưu tiên phát triển.
Bộ Công Thương cũng đang soạn thảo đề xuất chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 với nhiều tham vọng.
Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 nước ta sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp và ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới năm 2020 đã xác định, Việt Nam phải có ngành công nghiệp ô tô vào năm 2020 với những hãng sản xuất thật sự của Việt Nam.
Tưởng chừng như điều này sẽ đem lại triển vọng xán lạn cho ngành ô tô Việt Nam, nhưng sự lủng củng, chồng chéo, thiếu đồng bộ của Bộ Giao thông vận tải (GTVT) về đề án lộ trình hạn chế xe cá nhân trong thời gian vừa qua đang khiến ngành ô tô nước nhà gặp muôn vàn khó khăn.
Đề xuất thu phí hạn chế phương tiện giao thông của Bộ GTVT không những chỉ gây khó cho đời sống nhân dân, chưa rành mạch về tính pháp lý, thiếu những minh chứng có cơ sở khoa học, không đồng bộ với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nói chung và của ngành ô tô nói riêng, mà còn minh định cho lựa chọn dễ dàng nhất cho mình, đẩy khó khăn về phía nhân dân, gây tổn hại cho ngành kinh tế và quan trọng hơn cả là không có sự cam kết rõ ràng nào về tính khả thi và hiệu quả tương tác của chính sách vào thực tế cuộc sống, thậm chí còn có thể gây tác dụng ngược, khó có được sự đồng thuận của xã hội.
… “Rào” đẩy nhà đầu tư ra xa
Những phát ngôn, giải trình, trả lời các chất vấn gần đây của Bộ GTVT trong khi vẫn đang loay hoay trong nỗ lực tham vấn ý kiến phản biện, dư luận xã hội, thông tin đối thoại công khai, đầy đủ về chính sách, đề xuất lộ trình thực hiện phù hợp, khả thi và đúng pháp luật với Chính phủ đã khiến các nhà đầu tư lo ngại, gây thiệt hại đáng kể cho ngành ô tô nước nhà.
Hàng loạt nhà đầu tư đã chia tay thị trường Việt Nam hoặc đang rục rịch rút khỏi những dự án đầu tư của mình tại một thị trường vốn được đánh giá là có tiềm năng.
Renault-Nissan, Honda đã có kế hoạch đầu tư hàng trăm triệu đô la vào Indonesia. Trong khi đó, có đến 12 đơn vị thuộc VAMA liên doanh giữa doanh nghiệp trong nước với các hãng Toyota, Ford, Honda, Mercedes-Benz, Suzuki, Mitsubishi... với tổng vốn đăng ký không đến 1 tỉ đô la Mỹ.
Thất bại hơn là chưa có nhà sản xuất ô tô nước ngoài nào tỏ ý muốn đầu tư sâu hơn vào ngành ô tô, vì lo ngại chính sách và chiến lược phát triển ngành chưa rõ ràng và không ổn định.
Theo tính toán của các nhà kinh tế, ước tính đến năm 2020, Việt Nam cần một lượng ô tô mà nếu nhập khẩu thì phải mất đến 12 tỷ USD. Bài toán về giải quyết ùn tắc giao thông, tăng thu ngân sách hay thất thu, yếu tố việc làm... khi đề án này chính thức được phê duyệt cần phải được Bộ GTVT có giải đáp căn cơ.
Gian nan đường ra biển lớn
Dây chuyền sản xuất ở một nhà máy ô tô của Trường Hải
Trong lúc nền công nghiệp phụ trợ trong nước đang bị đánh giá là quá yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu cho các ngành công nghệ cao, cơ khí chính xác; trình độ công nghệ và quản lý còn lạc hậu và rất cần những cuộc chuyển giao từ các nhà đầu tư uy tín, thì sự lủng củng trong chính sách đang khiến các doanh nghiệp trong nước khó khăn càng thêm chồng chất khó khăn.
Thân phận gia công, ăn theo những chi tiết lặt vặt trong tổng thể một sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh lâu nay của nhiều ngành công nghiệp xem ra khó được giải thoát. Nỗ lực và ước mơ sản xuất một chiếc xe chính hiệu của người Việt mà Vinaxuki đã và đang bỏ nhiều tiền bạc và công sức đầu tư dường như đang ở vào thế “tiến thoái lưỡng nan”.
Tiếp tục thực hiện ước mơ hay trở lại với thân phận gia công, lắp ráp? Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy một viễn cảnh không mấy sáng sủa.

Ông Trần Bá Dương - Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty ô tô Trường Hải khi trao đổi với báo chí đã cho biết, thay vì cố gắng sản xuất cả một chiếc xe mang thương hiệu Việt, Trường Hải hiện đang “tập trung đầu tư sản xuất những linh kiện, chi tiết mà Việt Nam có lợi thế, đạt chất lượng toàn cầu, đem lại giá trị cao, có khả năng xuất khẩu trong khu vực”.
Ông Dương cho rằng: “Ngành ôtô Việt Nam nên hướng tới việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu càng nhiều càng tốt, bằng những sản phẩm có chất lượng và có tính cạnh tranh”.
Trường Hải, cho đến nay, có lẽ là một doanh nghiệp duy nhất luôn trung thành với ngành sản xuất ô tô và có những bước đi táo bạo, thích hợp, uyển chuyển và quyết liệt nhất, dù phải trải qua những diễn biến gay go nhất của thị trường, khó khăn nhất của nền kinh tế và cả những biến động bất lợi từ các chính sách kinh tế vĩ mô đối với ngành ô tô thời gian gần đây.
Những doanh nghiệp như thế ở Việt Nam chỉ đếm trên đầu ngón tay, họ luôn dám nghĩ, dám làm, dám theo đuổi ước mơ và đam mê, có quyết tâm đưa ngành ô tô nước nhà ra biển lớn không hẳn chỉ vì lợi nhuận kinh doanh mà còn có cả “lòng tự hào dân tộc, tự hào thương hiệu Việt, khát khao thay đổi hình ảnh và luôn sẵn lòng dấn thân”, như ông Vũ Bảo Quốc - Phó tổng giám đốc Công ty ô tô Trường Hải từng bày tỏ.
Tất cả những việc làm đó cần phải được trân trọng, khích lệ và hỗ trợ bằng các chính sách nghiêm túc, có tầm nhìn. Nếu không, nỗ lực ra biển lớn của họ có vẻ còn gặp nhiều sóng gió, chông gai.
Hy vọng thương tích rồi sẽ lành
Đề án thu phí hạn chế phương tiện giao thông vốn đã tốn quá nhiều bút mực, gây nhiều tranh cãi, dù sao vẫn chưa được thực thi. Mặc dù vậy, phát pháo của Bộ GTVT đã gây thương tích không nhỏ cho ngành ô tô.
Đề án vẫn đang được nghiên cứu, xem xét, tiếp thu phản biện xã hội cho nên người dân, báo chí, các chuyên gia kinh tế, các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành vẫn còn có thể cho ý kiến góp ý, đề xuất...
Cần thiết nhất hiện nay là Bộ GTVT nên sớm có những thông cáo phù hợp để ổn định tình hình, trấn an các nhà đầu tư, các doanh nghiệp sản xuất ô tô, dư luận xã hội, và cần phải có những kết quả phân tích, nghiên cứu sâu, có tính khoa học nhằm đệ trình Chính phủ một chính sách tốt nhất, được sự hậu thuẫn của đông đảo nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp vốn đang gồng mình vượt qua những thách thức suy thoái của nền kinh tế hiện nay.
Hy vọng, phát pháo của Bộ GTVT vừa qua chỉ là một tai nạn, thương tích đã gây ra cho thị trường và nền sản xuất ô tô Việt Nam hiện nay rồi sẽ sớm lành.

Cùng bạn tìm hiểu câu chuyện nhiều tập đoàn Mỹ đổ vốn vào Việt Nam

Trong buổi gặp với Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Bùi Quang Vinh, ông Stuart Dean - Giám đốc điều hành GE tại khu vực ASEAN cho biết, GE đang có tham vọng mở rộng hoạt động tại Việt Nam sang các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và y tế. Theo ông Stuart Dean, tới đây, GE sẽ làm việc với phía khi triển khai kế hoạch này.
Khủng hoảng kinh tế và những khó khăn trong nước khiến cho thu hút đầu tư nước ngoài từ các nguồn đầu tư quen thuộc của Việt Nam đã bị sụt giảm mạnh. Tuy nhiên, rất nhiều tập đoàn lớn từ Mỹ vẫn tiếp tục đổ vốn vào Việt Nam.
Kinh nghiệm cho thấy, khi khó khăn, việc thu hút đầu tư nên hướng đến các "ông lớn" vì họ có nguồn lực, chiến lược dài hạn nên ít bị ảnh hưởng.
Chuyến khảo sát lạ?
Mới đây, một chuyến khảo sát đầu tư của nhiều tập đoàn Mỹ đến Việt Nam đã gây không ít cái nhìn lạ lẫm và nghi ngờ. Bởi hầu hết bị ám ảnh từ thực tế khó khăn của kinh tế Mỹ và sự bất ổn mà kinh tế Việt Nam đang đối mặt.
Tuy nhiên, một sự thật khác cho thấy, trong số 21 tập đoàn hàng đầu Mỹ vừa đến Việt Nam để tìm kiếm cơ hội đầu tư, có nhiều tên tuổi lớn như Chevron, Coca-Cola, Caterpillar, General Electric (GE).
Nhiều tín hiệu cho thấy, họ đang có nhu cầu đầu tư thực và đây sẽ là làn sóng đầu tư mới khi mà nhiều tên tuổi lớn đang và sẽ đổ vốn vào Việt Nam để mở rộng kinh doanh.
Trong buổi gặp với Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Bùi Quang Vinh, ông Stuart Dean - Giám đốc điều hành GE tại khu vực ASEAN cho biết, GE đang có tham vọng mở rộng hoạt động tại Việt Nam sang các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và y tế. Theo ông Stuart Dean, tới đây, GE sẽ làm việc với phía khi triển khai kế hoạch này.
Trước đó, vào tháng 3/2012, để mở rộng nhà máy sản xuất tuốc pin điện gió ở Hải Phòng, GE đã tuyên bố tăng vốn đầu tư lên gấp đôi so với mức đầu tư hiện tại (khoảng 61 triệu USD) trong hai năm 2012 - 2013.
Hiện, nhà máy của Tập đoàn GE tại Hải Phòng đang tạo công ăn việc làm cho khoảng 600 lao động. Tuy nhiên, nếu kế hoạch mở rộng đầu tư đi vào triển khai, nhà máy này sẽ tăng nhu cầu lên khoảng 1.000 công nhân.
Ông Stuart Dean cho rằng, các cơ hội kinh doanh tại Việt Nam đang rộng mở là lý do chính khiến GE đưa ra các quyết định mở rộng đầu tư tại Việt Nam.
Bằng chứng là, ngày 10/7 vừa qua, trước sự chứng kiến của ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, GE đã ký với Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia hợp đồng cung cấp thiết bị cho đường dây 500KV Pleiku (Gia Lai)- Phú Lâm (TPHCM) dài 500 km với số tiền 16,5 triệu USD.
Thực tế đầu tư thời gian qua cho thấy, nhiều nhà đầu tư Mỹ đang tiếp tục theo đuổi các kế hoạch đầu tư và kinh doanh dài hạn tại Việt Nam.
Tập đoàn Intel đã thu hái được những kết quả hết sức khả quan từ nhà máy sản xuất chip ở TP.Hồ Chí Minh. Tính riêng năm 2011, nhà máy này mang lại 462 triệu USD về kim ngạch xuất khẩu cho Intel.
Ngoài Intel, Tập đoàn Chevron cũng đang theo đuổi dự án hợp tác với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) để khai thác khí ở Lô B. Tập đoàn này đang kỳ vọng sẽ sớm kết thúc đàm phán giá gas với PVN.
Để dự án sớm đi vào hoạt động, lãnh đạo Chevron mong muốn đưa thêm các công nghệ hiện đại vào Việt Nam.
Jabil - một doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) cũng vừa mới đầu tư thêm 70 triệu USD để mở rộng nhà máy tại Khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh, nâng tổng vốn đầu tư tại Việt Nam của doanh nghiệp này lên 100 triệu USD.
Ông lớn có làm thật
Công nhân Việt Nam làm việc tại Nhà máy Jabil ở Khu công nghệ cao TP.HCM
Nhân chuyến thăm và làm việc của Ngoại trưởng Mỹ - bà Hillary Clinton, một loạt tên tuổi như Coca-Cola, Unilever, Kimberly-Clark, Pepsico, P&G, Nike...đã đến Việt Nam để tìm kiếm cơ hội mở rộng đầu tư.
Thực ra, những tập đoàn này đều đã và đang có mặt tại Việt Nam. Nhiều chuyên gia dự báo, với xu hướng và triển vọng hết sức khả quan này, tới đây sẽ có làn sóng đầu tư mới từ các doanh nghiệp Mỹ vào Việt Nam. 
Việc 21 tập đoàn hàng đầu, là thành viên của Hội đồng Kinh doanh Mỹ - ASEAN đang có mặt tại Việt Nam để tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư là một minh chứng cho làn sóng đầu tư đó", một lãnh đạo Bộ KH-ĐT Việt Nam nói.
Theo ông Alexander Feldman - Chủ tịch Hội đồng Kinh doanh Mỹ - Asean, các doanh nghiệp Mỹ luôn coi Việt Nam là đối tác và thị trường tiềm năng và muốn tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác với Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam trong mọi lĩnh vực.
Vị đại diện Tập đoàn FedEx cũng cho rằng, thị trường Việt Nam đang dịch chuyển tích cực trong chuỗi giá trị toàn cầu. FedEx sẽ góp phần đẩy nhanh hơn sự dịch chuyển đó cũng như sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam để đẩy nhanh tiến trình đàm phán Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Ngoài FedEx, rất nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Mỹ cũng đang đặt kỳ vọng vào sự thành công của các vòng đàm phán TPP - vốn được coi là chất xúc tác lớn để thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư giữa các bên.
Bộ trưởng KH-ĐT Việt Nam - ông Bùi Quang Vinh khẳng định rằng, Việt Nam đang trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng và hàm lượng chất xám, công nghệ cao.
"Đây chính là những lĩnh vực thế mạnh của các doanh nghiệp Hoa Kỳ nên cơ hội hợp tác giữa hai bên rất lớn" - Bộ trưởng Vinh nói.

Cùng tìm hiểu về Lefaso và bài toán vùng nguyên liệu


Chia sẻ về vấn đề trên, ông Nguyễn Đức Thuấn - tân Chủ tịch Lefaso, Giám đốc Công ty CP đầu tư và sản xuất giày Thái Bình cho biết: “Đây là thách thức lớn với ngành da giày Việt Nam, do đó cần thiết phải có sự tập hợp nguồn lực trong ngành để hình thành nguồn nguyên phụ liệu nội địa, nhằm tận dụng lợi thế mà hiệp định TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương mang lại, bởi một khi TPP được thông qua thì sẽ có quy định bắt buộc về tỷ lệ nội địa hoá nguyên phụ liệu đối với sản phẩm giày để được hưởng ưu đãi thuế suất”.
Đánh giá lại kết quả hoạt động nhiệm kỳ V (2007 - 2012) của Hiệp hội Da - giày Việt Nam, nay là Hiệp hội Da, Giày - Túi xách Việt Nam (Lefaso), bà Nguyễn Thị Tòng, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Lefaso cho biết, mặc dù tình hình thị trường 5 năm qua có nhiều biến động, nhưng các doanh nghiệp (DN) ngành da - giày đã phấn đấu mở rộng thị trường đồng thời tận dụng tối đa các lợi thế về nhân công, lao động để gia tăng xuất khẩu.
Theo Lefaso, tổng vốn đầu tư của ngành da giày 5 năm qua ước đạt 9.500 tỷ đồng, sản lượng giày dép các loại tăng từ 673 triệu đôi lên 850 triệu đôi; da thuộc thành phẩm tăng từ 113 triệu sqft (10,17 triệu m2) lên 312 triệu sqft (28,8 triệu m2 ). Tính đến năm 2011, các nước thuộc liên minh châu Âu đạt 3.110,8 triệu USD chiếm 47,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành, tiếp đến là thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng 28,2% đạt 1.864,8 triệu USD, Nhật chiếm 3,2% đạt 209,6 triệu USD, còn lại thuộc về các thị trường khác.
Thế nhưng, DN ngành da - giày xuất khẩu Việt Nam đến nay chủ yếu vẫn sản xuất theo hình thức gia công (chiếm trên 70%), nhiều nguyên liệu vẫn phải nhập khẩu, đặc biệt là các nguyên liệu mũ giày. Do đó, nếu xét về tính cạnh tranh, toàn ngành da - giày Việt Nam vẫn còn yếu so với các nước xuất khẩu giày dép khác trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.
Lý giải hệ quả, đại diện các DN hoạt động trong lĩnh vực da - giày cho rằng, do thiếu khả năng cung ứng vật tư nguyên liệu từ nguồn nội địa, bên cạnh đó công tác đào tạo lao động lành nghề cũng chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất của DN.
Trong khi đó, về mặt chính sách, các rào quản kỹ thuật áp đặt từ phía nhà nhập khẩu với khách hàng tiêu dùng quốc tế, cũng như các yêu cầu về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, môi trường và các điều kiện đối với người lao động là những khó khăn không nhỏ đối với các DN.
Chia sẻ về vấn đề trên, ông Nguyễn Đức Thuấn - tân Chủ tịch Lefaso, Giám đốc Công ty CP đầu tư và sản xuất giày Thái Bình cho biết: “Đây là thách thức lớn với ngành da giày Việt Nam, do đó cần thiết phải có sự tập hợp nguồn lực trong ngành để hình thành nguồn nguyên phụ liệu nội địa, nhằm tận dụng lợi thế mà hiệp định TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương mang lại, bởi một khi TPP được thông qua thì sẽ có quy định bắt buộc về tỷ lệ nội địa hoá nguyên phụ liệu đối với sản phẩm giày để được hưởng ưu đãi thuế suất”.
Thực tế hiện nay, ngoại trừ một số DN sản xuất, xuất khẩu giày lớn và có thương hiệu đã và đang đầu tư hệ thống sản xuất nguyên phụ liệu riêng, hầu như các DN chuyên xuất khẩu hoặc sản xuất, tiêu thụ nội địa vẫn chưa có sự gắn kết chặt chẽ với các nhà sản suất nguyên phụ liệu.
Hiện cả nước có đến 119 DN sản xuất nguyên phụ liệu và máy móc thiết bị trong ngành da giày. Trong đó, có 72 DN cổ phần, tư nhân, trách nhiệm hữu hạn và cơ sở sản xuất, và 47 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Tại Đại hội, các DN sản xuất nguyên phụ liệu cung ứng cho ngành da giày, túi xách cũng đồng loạt kiến nghị nên có sự gắn kết hơn nữa giữa DN sản xuất da giày, túi xách và nguyên phụ liệu, thông qua hình thức kêu gọi DN tham gia xúc tiến trong hàng hóa trong hội và ngoài hội theo nhóm, ngành, qua đó, các DN sẽ có nhiều cơ hội chọn lựa làm việc với nhau hơn.
Đứng ở góc độ DN, ông Lê Quang Doãn - Tổng giám đốc Công ty TNHH sản xuất - thương mại Minh Diệu, DN chuyên sản xuất, kinh doanh các loại đế giày và nguyên phụ liệu cho sản xuất giày cho biết, ngoài việc liên kết DN trong nước, DN trong ngành còn phải làm sao để nguyên phụ liệu da giày trong nước có thể cạnh tranh được với nguyên phụ liệu giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc.
Ngoài ra, nếu DN sử dụng nguyên phụ liệu của Trung Quốc để sản xuất giày thì sản phẩm sẽ không được hưởng thuế suất ưu đãi khi xuất khẩu sang các nước thành viên TPP như Hoa Kỳ, bởi Trung Quốc không tham gia hiệp định TPP.
Tại Đại hội nhiệm kỳ VI (2012 – 2017), Lefaso kỳ vọng sẽ xây dựng một số khu - cụm công nghiệp sản xuất da giày, sản xuất nguyên phụ liệu và xử lý môi trường tập trung định hướng đến năm 2020, trên cơ sở lợi thế về hạ tầng và lao động để chủ động cung cấp nguyên phụ liệu, nâng cao năng lực cho ngành.

Chia sẻ tình hình thị trường xe trong nước cuối năm 2012: Hy vọng

Dù có vẻ khá lấp lửng như vậy, song câu trả lời của bộ quản lý ngành cũng có kết luận khá rõ ràng: việc tổ chức thu phí chỉ tiến hành khi có sự đồng thuận của người dân, nói cách khác, nếu dân không đồng thuận thì đề xuất thu phí nói trên sẽ bị hủy bỏ và điều này hoàn toàn có thể xảy ra. Trên thực tế, không ít dự án treo đã bị hủy bỏ vì thiếu tính khả thi.
Chiếc Ford Focus hoàn toàn mới vừa chính thức ra mắt thị trường Đông Nam Á sẽ có mặt tại Triển lãm ôtô Việt Nam 2012 là sản phẩm chiến lược của Ford Việt Nam trong những tháng cuối năm 2012
Thị trường xe hơi Việt Nam có nguy cơ “cài số lùi” năm năm khi sản lượng tiêu thụ cả năm 2012 có thể chỉ tương đương, thậm chí thấp hơn năm 2007.
Chùn tay vì phí
Thị trường ôtô Việt Nam đã có nhiều đợt “cài số lùi”, thường rơi vào thời điểm chính sách thuế thay đổi, nhưng lần này, khả năng phục hồi chậm tới mức gần như không có dấu hiệu phục hồi vì đồng thời có nhiều khoản phí được các cơ quan chức năng đề xuất, khiến tổng chi phí dành cho việc sở hữu và sử dụng một chiếc xe mới tăng quá cao.
Cụ thể, từ ngày 1/1/2012, thuế trước bạ tăng gấp đôi tại Hà Nội (20%), gấp 1,5 lần tại TP.HCM, Đà Nẵng (15%) và lên mức 10% ở các tỉnh thành khác. Xin nêu một ví dụ cụ thể: chiếc Toyota Corolla Altis (một trong những chiếc xe đứng đầu trong nhóm năm mẫu xe bán chạy nhất trên thị trường hiện nay), phiên bản 2.0L số tự động có giá 754,5 triệu đồng.
Nếu mua chiếc xe này trong năm nay và người mua có hộ khẩu tại Hà Nội thì sẽ phải nộp thuế trước bạ khoảng 151 triệu đồng, khiến giá xe sau thuế lên tới hơn 900 triệu đồng.
Đó là chưa kể phí lưu hành mà sau này được đổi thành phí hạn chế phương tiện cá nhân theo đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải vào tháng 11/2011, với mức từ 20 triệu đến 50 triệu đồng/năm/xe (mức thu này tăng 5% sau mỗi năm cũng theo đề xuất của Bộ trên hồi tháng 3/2012), rồi phí ôtô đi vào trung tâm thành phố giờ cao điểm được dự kiến sẽ áp dụng ngay trong năm 2012 và phí bảo trì đường bộ dự kiến thu từ 1/6/2012.
Như vậy, ngoài việc phải mua xe với giá cao gần gấp ba so với một số thị trường lớn trên thế giới, người tiêu dùng trong nước còn phải chi một khoản tiền tương đương 1/4-1/5 giá trị xe để trả các loại phí. Có thể thấy đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới hiện tượng nhu cầu mua xe mới trong nước bị giảm mạnh từ đầu năm 2012, bên cạnh đó là những ảnh hưởng khác từ thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán…
Theo báo cáo của Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA), trong tháng 6 vừa qua, dù các nhà sản xuất và các nhà phân phối đã liên tục tung ra các chương trình khuyến mãi, hỗ trợ giá, hỗ trợ phí trước bạ, song nhiệt độ thị trường vẫn tiếp tục giảm.
Cụ thể, lượng xe bán được trong tháng 6 của 18 đơn vị thuộc VAMA chỉ đạt 6.555 chiếc, giảm 4,6% so với tháng trước và giảm tới 43% so với cùng kỳ năm 2011. Như vậy, về tổng thể, thị trường xe hơi trong nước sáu tháng đầu năm nay (bao gồm cả sản phẩm lắp ráp trong nước và sản phẩm nhập khẩu nguyên chiếc) giảm 41% (riêng VAMA giảm 33%) so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó lượng xe con giảm 47%, xe tải giảm 30%.
Với kết quả kinh doanh này, theo dự đoán của VAMA, sản lượng tiêu thụ của cả năm 2012 sẽ chỉ đạt khoảng 80 ngàn xe, thấp hơn nhiều so với mức 138 ngàn của năm 2011, thậm chí còn thấp hơn mức tiêu thụ của năm 2007 - năm có mức tiêu thụ thấp nhất trong năm năm gần đây.
Hồi phục với “án treo”?
Toyota giới thiệu mẫu xe Toyota 86 thuộc phân khúc hoàn toàn mới (coupé thể thao) vào đầu tháng 6 bất chấp thị trường đang bị sụt giảm
Công văn phúc đáp của Bộ Giao thông Vận tải trước đề nghị của VAMA cho biết rõ về thời điểm áp phí hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, cho thấy đề án phí nói trên đã được chuyển sang dạng “án treo” vì chưa áp dụng ngay trong năm 2012 như những tuyên bố trước đó.
Bộ đã khẳng định trong công văn nói trên rằng “đã giao cho Tổng cục Đường bộ Việt Nam chủ trì phối hợp Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải nghiên cứu kỹ, bổ sung, hoàn chỉnh đề án thu phí hạn chế phương tiện giao thông cá nhân và phí ôtô đi vào trung tâm thành phố giờ cao điểm. Tuy nhiên, để hoàn chỉnh đề án này, cần phải có khoảng thời gian nhất định, phù hợp (có thể là vài ba năm) để tham vấn ý kiến phản biện, dư luận xã hội, thông tin đối thoại công khai, đầy đủ về chính sách, từ đó mới đề xuất được lộ trình thực hiện phù hợp. Bộ Giao thông Vận tải thấy rằng việc tổ chức thu phí chỉ khả thi khi nhận được sự đồng thuận của người dân”.
Dù có vẻ khá lấp lửng như vậy, song câu trả lời của bộ quản lý ngành cũng có kết luận khá rõ ràng: việc tổ chức thu phí chỉ tiến hành khi có sự đồng thuận của người dân, nói cách khác, nếu dân không đồng thuận thì đề xuất thu phí nói trên sẽ bị hủy bỏ và điều này hoàn toàn có thể xảy ra. Trên thực tế, không ít dự án treo đã bị hủy bỏ vì thiếu tính khả thi.
Bởi vậy, trả lời của Bộ Giao thông Vận tải vẫn được xem như phao cứu sinh cho thị trường ôtô lúc này. Theo đánh giá của Mercedes-Benz Việt Nam thì đây là tín hiệu tích cực đối với thị trường.
Người phát ngôn của hãng này nhìn nhận: “Quyết định hoãn áp dụng phí phương tiện cá nhân đến năm tới góp phần củng cố tình hình doanh số bán hàng của các hãng theo hướng tốt hơn và giúp bình ổn tâm lý khách hàng đang có nhu cầu mua xe. Điều đó cũng đi song song với những tín hiệu tốt đầu tiên theo xu hướng tăng trưởng trở lại của nền kinh tế Việt Nam”.
Ông Laurent Charpentier - Tổng giám đốc Ford Việt Nam, Chủ tịch VAMA cho rằng với dấu hiệu lạc quan này, mức tiêu thụ xe trong năm 2012 có thể sẽ được cải thiện và vượt qua con số 80 ngàn chiếc như dự báo trước đây.
Trên thực tế, VAMA không thể không tỏ ra lạc quan trước những dấu hiệu dù chỉ le lói của thị trường, bởi họ không có lựa chọn nào khác. Triển lãm ôtô Việt Nam 2012 sẽ được tổ chức sớm hơn thường lệ (cuối tháng 9) tại Hà Nội sẽ là một trong những nỗ lực đặc biệt của các nhà sản xuất ôtô Việt Nam nhằm cải thiện thị trường trong ba tháng cuối năm - khoảng thời gian quyết định doanh số bán hàng của cả năm 2012.
Ford Việt Nam đã chuẩn bị con át chủ bài cho hai năm 2012-2013: chiếc Focus hoàn toàn mới được xem là một đột phá của phân khúc xe du lịch hạng C (Compact sedan) sẽ chính thức ra mắt người tiêu dùng Việt Nam tại triển lãm sắp tới và nhận đặt hàng từ tháng 10 năm nay. 

Mercedes-Benz Việt Nam cũng cho biết sẽ giới thiệu một mẫu xe mới hấp dẫn và sản phẩm dịch vụ hậu mãi đặc biệt tại sự kiện này. Ngoài sự góp mặt của các nhà sản xuất xe hơi trong nước, Triển lãm ôtô Việt Nam 2012 còn có sự tham gia lần đầu tiên của các nhà nhập khẩu và phân phối xe chính hãng như BMW Euro Auto, Audi Việt Nam…, góp phần làm phong phú hơn “bữa tiệc” dành cho người tiêu dùng.
Thêm sản phẩm mới hấp dẫn, các chính sách ưu đãi về giá và hậu mãi từ các nhà sản xuất, đã giảm được áp lực tâm lý về các khoản “phí chồng phí” đối với người dùng xe hơi là những điều kiện thuận lợi giúp Triển lãm ôtô Việt Nam 2012 trở thành bước khởi đầu cho sự vực dậy của thị trường ôtô trong nước. Hy vọng điều đó sẽ trở thành hiện thực

Chia sẻ cùng bạn tình trạng Hàng Việt: Dậu thưa, phên mỏng


Các tiêu chuẩn đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam vẫn chưa được quy định cụ thể, trong khi hàng xuất khẩu của Việt Nam không chỉ đối mặt với việc giảm sút về giá cả, đơn hàng, khả năng tiêu thụ, mà còn phải đương đầu với nhiều rào cản kỹ thuật, xu hướng bảo vệ mậu dịch từ các nước nhập khẩu.
Hàng Việt Nam đang vất vả cạnh tranh với hàng nước ngoài
Người vào dễ, ta ra khó

Trong khi các DN xuất khẩu gặp khó vì phải đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật, xu hướng bảo vệ mậu dịch từ các nước nhập khẩu thì hàng rào kỹ thuật của Việt Nam vẫn chưa được ban hành!
Theo ông Nguyễn Quốc Anh, Chủ tịch Hội Cao su - Nhựa TP.HCM, hiện nay Việt Nam chưa có hàng rào kỹ thuật bảo vệ hàng trong nước, và ông đưa ra dẫn chứng nhiều mặt hàng cao su, lốp xe của Việt Nam đang bị cạnh tranh quyết liệt bởi hàng của các nước Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan... ngay chính trên “sân nhà”.
“Hàng Việt Nam sản xuất ra phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn chất lượng, trong khi hàng nước ngoài lại không phải tuân theo bất cứ tiêu chuẩn nào. Liệu như vậy có bảo vệ được hàng hóa và người tiêu dùng hay không?”, ông Anh bức xúc. 

Cũng theo ông Anh, trong 10 nước ASEAN chỉ còn Việt Nam là chưa có quy chuẩn quốc gia này. Các nước châu Á khác cũng giống Việt Nam nhưng đã áp dụng tiêu chuẩn của Mỹ.
Việc không có hàng rào kỹ thuật bảo vệ sẽ tạo cơ hội cho các sản phẩm giả mạo, kém chất lượng đua nhau đổ vào Việt Nam khi “Khu vực Thương mại tự do ASEAN” chính thức có hiệu lực vào năm 2015. 

Cùng quan điểm này, bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao, khẳng định: “Việt Nam chưa có hoạt động gì chuẩn bị cho thời điểm 2015 khi hàng rào thuế quan giữa Việt Nam và ASEAN + 1 bị dỡ bỏ”.
Trong khi các nước đã chuẩn bị kỹ càng, từng ngày từng giờ đưa hàng tiếp cận thị trường Việt Nam thì chúng ta vẫn chưa xúc tiến hoạt động nào. Cụ thể, trong các chương trình xúc tiến thương mại năm 2013 không hề có hoạt động, chương trình nào liên quan đến ASEAN + 1.
Tham gia trực tiếp các dự án đưa hàng Việt vào chợ truyền thống, vào các thị trường Trung Quốc, Myanmar, Campuchia..., bà Hạnh nhận thấy hàng của các nước ASEAN như Malaysia, Indonesia, Thái Lan có một vị trí nhất định tại các chợ.
Hàng của những nước này trực tiếp vào chợ, đến với từng tiểu thương bằng nhiều con đường khác nhau. Hàng Trung Quốc còn hơn thế, hiện có rất nhiều mặt hàng Trung Quốc kém chất lượng được dán nhãn Việt Nam để xâm nhập và tiêu thụ tràn lan trên thị trường.

Các tiêu chuẩn đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam vẫn chưa được quy định cụ thể, trong khi hàng xuất khẩu của Việt Nam không chỉ đối mặt với việc giảm sút về giá cả, đơn hàng, khả năng tiêu thụ, mà còn phải đương đầu với nhiều rào cản kỹ thuật, xu hướng bảo vệ mậu dịch từ các nước nhập khẩu.
Cụ thể, Nhật Bản đã áp dụng tiêu chuẩn về Ethoxiqin đối với tôm nhập khẩu của Việt Nam. Tại một số thị trường nhập khẩu khác, hàng thủy sản, rau quả... của Việt Nam cũng có nguy cơ bị mất đơn hàng và thị trường vì chất lượng chưa bảo đảm và chưa tuân thủ quy định. 

Buông lỏng quản lý, thiếu giám sát

Chính sự buông lỏng quản lý cũng như chưa đưa ra những rào cản kỹ thuật đã khiến các DN trong nước vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Hiện tại, các DN không chỉ đối diện với sức mua kém mà còn phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ nhiều nước.
Ở lĩnh vực thời trang và thực phẩm, hàng Trung Quốc là nỗi ám ảnh lớn nhất của DN Việt. Hiện nay hàng thời trang của Trung Quốc hiện diện ở tất cả các chợ, cửa hàng, thậm chí còn vào cả siêu thị.
Các mặt hàng rau củ quả, thực phẩm của Trung Quốc cũng “thống trị” các chợ khiến người tiêu dùng ít có cơ hội lựa chọn hàng Việt Nam. 

Ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Công ty Vinamit, đơn vị có nhiều năm làm ăn với DN Trung Quốc, cho rằng, rất khó có thể quản lý hàng thực phẩm kém chất lượng Trung Quốc vào Việt Nam khi buôn bán tiểu ngạch quá “thoáng” như hiện nay.
Bởi hiện tại có rất nhiều mặt hàng Trung Quốc vào Việt Nam mà không phải chịu bất cứ sự giám sát nào về chất lượng cũng như không phải đóng thuế.
“Đường đi” của hàng giá rẻ Trung Quốc vào Việt Nam khá đơn giản: sản phẩm xuất xưởng được đưa ngay qua biên giới và khi về đến TP.HCM sẽ được các đầu nậu chào hàng với các đại lý lớn, thậm chí họ còn cho chủ đại lý nợ tiền hàng dài ngày.
Những đầu nậu này thường cung cấp nhiều mặt hàng nên chỉ cần giao dịch với một đầu nậu là các cửa hàng, đại lý đã có đủ hàng để bán. Với cách làm này, hàng Trung Quốc thiết lập được hệ thống phân phối rộng khắp, chiếm lĩnh thị trường bình dân. 

Ông Văn Đức Mười, Chủ tịch Hội Lương thực - Thực phẩm TP.HCM (FFA), lo ngại trước thực trạng hàng ngoại nhập, đặc biệt là hàng chất lượng kém, đang ồ ạt tràn vào Việt Nam.
“Nếu trong thời gian tới hàng rào kỹ thuật vẫn chưa được quan tâm, triển khai như hiện nay thì việc thị trường Việt Nam bị xâm lấn một cách thô bạo vào năm 2015 rất dễ xảy ra. Chính vì vậy, cùng với xây dựng hàng rào kỹ thuật Nhà nước cũng cần phải hỗ trợ DN đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng sang các nước”, ông Mười đề xuất.

Cùng tìm hiểu về sự vươn ra thị trường ngoại

Ông Văn Đức Mười, Tổng Giám đốc Công ty Vissan, cho biết Vissan đang hoàn tất những công đoạn cuối cùng để mở văn phòng đại diện tại Campuchia. Những năm qua, Vissan đã xuất hàng sang Campuchia qua các đại lý và quyết định đầu tư 1 triệu USD để phát triển thị trường này. S
Nhiều doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng đầu tư bán hàng ra thị trường nước ngoài. Kết quả ban đầu cho thấy đây là hướng đi khả quan.
Khách hàng dùng thử sản phẩm của Vinamit tại một siêu thị ở Trung Quốc
Sức mua kiệt quệ trong thời gian dài, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa kịp phát huy tác dụng khiến không ít doanh nghiệp (DN) gấp rút tìm đường xoay xở.
Để tìm đường sống, một số DN đã mạnh dạn tìm cơ hội làm ăn tại các thị trường lân cận và bước đầu gặt hái thành quả. Khái niệm “doanh nhân ASEAN+1”, “doanh nhân WTO” bắt đầu được các DN quan tâm.
“Đánh” hàng sang Trung Quốc
Không kể đến những dự án “tỉ đô” đầu tư ra nước ngoài vào các dự án công nghiệp năng lượng, bất động sản, lâm nghiệp, nông nghiệp…, hiện một số ngành nghề như thủ công mỹ nghệ, sản xuất thương mại cũng tiến ra thị trường nước ngoài.
Vài năm trở lại đây, Trung Quốc (TQ) là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, chỉ xếp sau Mỹ, EU, Nhật Bản và chiếm trên 10% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, chiếm phần lớn trong đó là xuất khẩu theo đường tiểu ngạch.
Tháng 5 vừa qua, đoàn DN Việt Nam đã có chuyến khảo sát thị trường TQ. Sau chuyến đi, nhiều DN nhận ra rằng đi bằng con đường chính ngạch, đưa hàng thẳng vào siêu thị TQ là cơ hội lớn cho các DN Việt.
Theo ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng Giám đốc Công ty CP Vinamit, năm 1997, Vinamit quyết định “đánh” vào thị trường TQ và các nước Đông Nam Á. Hiện Vinamit đã mở văn phòng đại diện tại TQ, doanh thu từ thị trường đông dân nhất thế giới này chiếm hơn 50% tổng doanh thu xuất khẩu của công ty (doanh thu của Vinamit năm 2011 tại TQ là 400 tỉ đồng).
Từ đầu năm đến nay, trong khi doanh thu tại thị trường nội địa giảm khoảng 20%-30% thì tại thị trường TQ, tăng trưởng bình quân đều đặn ở mức 20%.  
Không chỉ Vinamit, một số DN đã có mặt lâu năm tại thị trường TQ và xây dựng nhà máy sản xuất tại đó. Chẳng hạn, Công ty Cân Nhơn Hòa đã mở nhà máy tại Quảng Tây từ năm 2010, chuyên nghiên cứu và sản xuất cân lò xo.
Các thành viên Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (HAWA) đang xúc tiến thuê mặt bằng tại một trung tâm đồ gỗ tại TQ để trưng bày, bán sản phẩm. Một số sản phẩm của Vifon, Bích Chi, SG Food, Tân Quang Minh… đã có mặt tại các siêu thị ở TQ thông qua kênh phân phối của Vinamit.
Theo thông tin từ Hội DN hàng Việt Nam chất lượng cao, hiện đã có hơn 20 DN Việt Nam thâm nhập thị trường TQ bằng các sản phẩm tinh chế. Thị trường TQ vẫn còn khá nhiều “dư địa”, sức mua cao gấp nhiều lần so với người Việt nên rộng “đất” cho DN Việt.
Tại các siêu thị của TQ đã có hàng Malaysia, Philippines, Thái Lan, Indonesia…, nhu cầu của người TQ về sản phẩm Việt, đặc biệt là nông sản thực phẩm, là có thực và không nhỏ.
Lợi thế của DN Việt là gần thị trường này, chi phí vận chuyển hàng vào TQ thấp (chỉ bằng 1/6 so với giá cước vận chuyển sang Mỹ). Xu hướng người tiêu dùng TQ cũng đang ưa chuộng sản phẩm nhập khẩu. 

Khai phá thị trường mới
Ngoài TQ, nhiều DN đang gấp rút chuẩn bị kế hoạch làm ăn tại thị trường Campuchia và một số nước khác. Công ty Hóa mỹ phẩm Quốc tế (ICC) đang xúc tiến đầu tư nhà máy sản xuất tại Myanmar.
Công ty CP SG Food cũng đang gấp rút xúc tiến bán hàng qua Campuchia. Theo bà Lê Thanh Lâm, Phó Giám đốc SG Food, tiêu thụ tại thị trường nội địa quá èo uột.
Trong khi đó, thị trường các nước lân cận có nhu cầu, sở thích, khẩu vị không khác biệt nhiều so với người Việt nên DN rất muốn tận dụng dây chuyền nhà máy sẵn có để sản xuất thêm hàng, mở rộng thị trường và tăng doanh thu.
Ông Văn Đức Mười, Tổng Giám đốc Công ty Vissan, cho biết Vissan đang hoàn tất những công đoạn cuối cùng để mở văn phòng đại diện tại Campuchia. Những năm qua, Vissan đã xuất hàng sang Campuchia qua các đại lý và quyết định đầu tư 1 triệu USD để phát triển thị trường này. S
au khi mở văn phòng đại diện, Vissan sẽ thiết lập hệ thống phân phối tại thị trường này và làm bàn đạp để phát triển sang thị trường Lào. Bước đầu, sẽ đưa sang Campuchia những mặt hàng khô như xúc xích, đồ hộp…
Cũng đánh giá cao tiềm năng thị trường Campuchia, Liên hiệp HTX Thương mại TPHCM (Saigon Co.op) đang tích cực tìm kiếm mặt bằng rộng khoảng 5.000 - 8.000 m2 để mở siêu thị.
Bà Nguyễn Thị Hạnh, Tổng Giám đốc Saigon Co.op, cho biết người dân Campuchia ưa thích hàng Việt, thị trường bán lẻ ở đây cũng đang phát triển, sức mua khá tốt.
“Ngoài Campuchia, chúng tôi cũng đang tìm đối tác ở Lào. Phát triển hệ thống phân phối hàng Việt ra nước ngoài, trước mắt là các nước trong khu vực, là định hướng chiến lược của Saigon Co.op. Lần đầu “mang chuông đi đánh xứ người”, chúng tôi phải chuẩn bị thật kỹ” - bà Hạnh chia sẻ.
Thời trang Việt xuất ngoại
Trong lĩnh vực may mặc, Thời Trang Việt là một trong số ít công ty sớm mở cửa hàng tại nước ngoài. Hiện công ty đã có 4 cửa hàng Ninomaxx (hoạt động theo hình thức nhượng quyền thương mại) tại Mông Cổ, Ai Cập, Sydney (Úc), đảo New Caledonia (Pháp).
Năm tháng đầu năm 2012, công ty đã bán được 190 mẫu thời trang với tổng cộng 110.000 sản phẩm tại 4 cửa hàng này. Theo ông Nguyễn Hữu Phụng, Chủ tịch HĐQT công ty, đây là kết quả rất khả quan, các cửa hàng có cơ hội phát triển tốt trong thời gian tới.
Hiện Thời Trang Việt đang chuẩn bị tham gia thị trường các nước lân cận, gần nhất là Campuchia.

Góc nhìn chân thực về việc cạnh tranh trong thị trường ĐTDĐ: Sóng lớn 22.000 tỷ đồng

Với hệ thống hơn 120 đại lý trên toàn quốc, trong đó có những cái tên tiêu thụ rất tốt như Thế Giới Di Động, Viễn Thông A, Nguyễn Kim, Pico, Smartcom đủ làm hài lòng các thương hiệu như LG, Sony, Huawei... Không dừng lại ở đó, thị trường phân phối điện thoại trong nước còn nhộn nhịp hơn khi xuất hiện, hai nhà phân phối quốc tế lớn là Brightstar và BrightPoint dẫn đến những thay đổi lớn. 
Hai mục tiêu của Samsung
Samsung chấp nhận bắt tay với nhà phân phối quyền lực PSD để nhanh chóng soán ngôi vị số một từ tay Nokia với hai mục tiêu rõ ràng: hạn chế Nokia và giành toàn bộ kênh phối phối PSD đang sở hữu...
So kè Samsung - Nokia

Theo IDC, từ quý I/2012, Samsung đã đạt thành công vượt bậc trên thị trường thế giới khi xuất xưởng 93,8 triệu chiếc ĐTDĐ, vượt qua Nokia để trở thành nhà sản xuất ĐTDĐ dẫn đầu thị trường thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam, dù có lợi thế nhà máy sản xuất, Samsung vẫn mãi đứng sau Nokia.
Nokia đã kết thúc quý đầu tiên năm 2012 (quý I/2012) với tư cách là nhà cung cấp hàng đầu trong các nhà cung cấp ĐTDĐ, chiếm hơn phân nửa tổng số ĐTDĐ tại Việt Nam.
Mặc dù Samsung vẫn là hãng hàng đầu trong thị trường smartphone của Việt Nam nhờ vào kết quả kinh doanh tốt của dòng smartphone giá thấp bao gồm Galaxy Y và Galaxy Mini nhưng, tổng số lượng ĐTDĐ phân phối, bao gồm cả điện thoại phổ thông và smartphone, vẫn còn khoảng cách so với Nokia. 
Ông Nguyễn Văn Đạo, Phó tổng giám đốc Samsung Vina: Sẽ có những thay đổi lớn
- Việc Samsung bất tay trở lại với nhà phân phối không phải là việc quay trở lại cách làm cũ mà là bước mở rộng kênh phân phối của mình. Bởi nhà phân phối bây giờ cũng đã có những bước phát triển mới.
Sau hợp tác với PSD, hệ thống phân phối của Samsung thời gian tới sẽ thay đổi rất lớn. Theo thỏa thuận, PSD sẽ là đối tác phân phối toàn quốc của Samsung, phía Samsung chỉ giữ lại các hệ thống siêu thị bán hàng trực tiếp.
Do vậy, trong thời gian tới, Samsung sẽ tổ chức lại để các đại lý vùng của Samsung hiện nay làm việc thuận lợi với cách làm việc mới.
So sánh về tương quan lực lượng, trong xu thế chung, rõ ràng, Samsung có lợi thế về mặt công nghệ, thiết kế lẫn giá bán, và mục tiêu về ngôi vị dẫn đầu ở thị trường Việt Nam không nằm ngoài tầm tay.
“Thế nhưng, Việt Nam là một thị trường đặc biệt, người dùng cảm nhận thương hiệu qua tình cảm, tâm lý tiêu dùng ảnh hưởng rất lớn bởi cái tên tiên phong. Người Việt mua xe máy trước tiên phải là Honda và mua điện thoại phải tìm đến Nokia. Do đó, tuy có nhiều bất lợi nhưng Nokia vẫn là thương hiệu có giá trị ảnh hưởng lớn tại việt Nam”, ông Mai Triều Nguyên, Giám đốc Công ty TNHH Mai Nguyên, nhận định.
Vì điều này mà Nokia có thể không thành công ở thị trường khác nhưng vẫn được chào đón ở Việt Nam. Theo ông Nguyên, bằng chứng cụ thể nhất là dù không thành công với hệ điều hành symbian cho smartphone nhưng bước chuyển về phân khúc giá rẻ, 2 sim 2 sóng, Nokia đã đánh bật được các dòng điện thoại Trung Quốc và điện thoại thương hiệu Việt, gia công tại Trung Quốc vốn có lợi thế giá rẻ, chỉ trong hai năm vừa qua. 

PSD: Quyền phân xử của 1.700 đại lý

Dù thị trường Việt Nam có sự tham gia gần như đầy đủ của các thương hiệu sản xuất điện thoại nhưng từ chuyện so kè của hai ông lớn là Nokia với Samsung, dễ thấy quyền lực ngầm phía sau: Sự tác động của nhà phân phối. Đấy cũng chính là nguyên nhân dẫn đến quan hệ tay ba giữa Nokia, PSD và Samsung.

Khác với ngành hàng tiêu dùng, ĐTDĐ, ngành hàng có doanh số hàng năm lên đến hơn 22.000 tỷ đồng và khả năng tiêu thụ nhanh có sự tham gia nhiệt tình của các công ty phân phối chuyên nghiệp như PSD, FPT, Lucky ở trong nước và các công ty nước ngoài như Brightstar Việt Nam. 

Trong đó, PSD là một gương mặt nổi bật với tới 1.700 đại lý và 11 chi nhánh trên toàn quốc. Đây là nhà phân phối có tiềm lực về tài chính và hệ thống kho bãi tốt.
Theo sau đó, có thể kể đến Công ty Phân phối FPT với gần 1.000 đại lý trên toàn quốc. Ông Huỳnh Văn Thi, Chủ tịch PSD cho biết, để đạt đến mức doanh thu 6 tháng đầu năm 2012 là 5.353 tỷ đồng, PSD ngoài hệ thống rộng khắp còn phải có tiềm lực kinh tế để có những dịch vụ tài chính, tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng kinh doanh nhỏ lẻ có thể lấy hàng. Chính vì sự hỗ trợ này mà PSD phát triển mạnh trong việc phân phối ở thị trường tỉnh.

Khác với con đường của Nokia đồng hành với những nhà phân phối như PSD, FPT, Lucky... Samsung đã cải tổ hệ thống phân phối trong khoảng 2 năm trước. Thay vì qua nhà phân phối, điện thoại của Samsung từ nhà máy Bắc Ninh trực tiếp rót vào hệ thống siêu thị lớn như Nguyễn Kim, Thế Giới Di Động, Viễn Thông A, Mai Nguyên... để đến với khách hàng.
Với thị trường tỉnh, Samsung làm việc với các nhà phân phối vùng, từ điểm này đưa hàng đến với những shop bán hàng nhỏ ở các tỉnh. Với cách làm trực tiếp, nhanh gọn này, cộng với những cải tiến trong sản xuất, công nghệ... từ 14% thị trường trong năm 2011, Samsung đã có tốc độ phát triển rất nhanh, chiếm vị trí thứ 2 thị trường. Tuy nhiên, tất cả vẫn không qua đủ để qua mặt cách làm của các công ty phân phối.

Theo ông Cho Seok Hee, Tổng giám đốc Công ty Điện tử Samsung Vina, ngành công nghiệp điện thoại gần đây có quá nhiều thay đổi và Samsung muốn đạt vị trí dẫn đầu ở thị trường Việt Nam và củng cố vị trí trên thị trường thế giới phải thay đổi đầu tiên ở Việt Nam là bắt tay với nhà phân phối quyền lực như PSD.
Năm 2011, PSD phân phối hơn 5,9 triệu điện thoại Nokia, doanh số 5.200 tỉ đồng và lợi nhuận 134 tỷ đồng, chiếm gần 50% tổng doanh thu của PET. Nokia cho biết sau khi ngưng hợp tác với PSD sẽ mở rộng thị phần cho FPT và Lucky, trong đó FPT nắm từ Bắc Trung bộ trở ra và Lucky từ Nam Trung bộ trở vào.
“Mục tiêu của mô hình phân phối mà PSD đã thống nhất với Samsung là đưa sản phẩm về thị trường tốt nhất, hạn chế khách hàng trung gian mà tiếp xúc khách hàng trực tiếp chứ không qua đại lý”, ông Thi tiết lộ.

Phân phối điện thoại ngày càng cạnh tranh chuyên nghiệp hơn buộc cả nhà phân phối và nhà sản xuất đều nỗ lực tìm đối trọng để phá thế phụ thuộc. Các hãng dần nắm thế chủ động, mở rộng mạng lưới đối tác bao phủ thị trường và tránh sức ép của nhà phân phối. Các hãng bán hàng trực tiếp theo các thoả thuận tuỳ vào thế mạnh từng đối tác thay vì chỉ gắn với nhà phân phối chính. 

Bắt tay với PSD, trao quyền cho “ông lớn” phân phối trên thị trường cả nước, Samsung cũng đặt chỉ tiêu cụ thể cho nhà phân phối này. “Với mạng lưới của mình, chúng tôi tự tin sẽ giúp Samsung đạt vị thế số 1 ở thị trường Việt Nam, như đã làm trước đó với Nokia”, ông Thi khẳng định.
Tuy nhiên, con đường của PSD cũng không hẳn toàn hoa hồng. Thực tế thị trường cho thấy, các nhà phân phối khu vực của Samsung hiện nay không thể ôm hàng về kho của mình nhiều hơn được nữa.
Samsung phải tìm các nhà phân phối có tiềm lực tài chính như PSD. Còn PSD cũng khó có lựa chọn an toàn nào khác ngoài Samsung khi Nokia đang đi xuống.
Còn nhiều ẩn số
Sóng lớn từ sự thay đổi trong mối liên kết Nokia - PSD - Samsung sẽ kéo theo những sóng nhỏ đến từ những cái tên như HTC, Sony, Thế Giới Di Động, FPT, Viễn Thông A...
Vẽ lại bản đồ

Bản đồ phân phối ĐTDĐ tại Việt Nam không chỉ có các ông lớn. Vướng vào cam kết không phân phối cho đối tác có cùng sản phẩm với Nokia, từ năm 2011, PSD đã phải thành lập công ty phân phối Smartcom để không bỏ sót khách hàng.
Với hệ thống hơn 120 đại lý trên toàn quốc, trong đó có những cái tên tiêu thụ rất tốt như Thế Giới Di Động, Viễn Thông A, Nguyễn Kim, Pico, Smartcom đủ làm hài lòng các thương hiệu như LG, Sony, Huawei... Không dừng lại ở đó, thị trường phân phối điện thoại trong nước còn nhộn nhịp hơn khi xuất hiện, hai nhà phân phối quốc tế lớn là Brightstar và BrightPoint dẫn đến những thay đổi lớn. 

Dấu hiệu đầu tiên là vào hạ tuần tháng 6/2012, XPERIA - Sony Smartphone chính thức gia nhập Sony Electronics Việt Nam. Trên nguyên tắc, việc phân phối của điện thoại của Sony vẫn thuộc về Smartcom, không có gì thay đổi.
Theo Tổng giám đốc Sony Electronics Việt Nam, ông Yuzo Otsuki, sự kiện này đánh dấu một Sony hợp nhất tại thị trường Việt Nam. Từ đó, mạng lưới bảo hành và dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng đối với sản phẩm Sony Smartphone sẽ được mở rộng.
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, với hệ thống phân phối hiện nay của Sony đã là 160 đối tác, showroom trên toàn quốc, bao gồm có cả những đối tác của Smartcom thì việc Sony cơ cấu lại hệ thống phân phối, Smartcom mất phần cũng sớm muộn diễn ra. 

Nằm trong xu hướng cơ cấu lại hệ thống phân phối, thời gian tới, HTC cũng đang hoạch định con đường mới cho mình. Ông Nguyễn Hồng Châu, Trưởng đại diện HTC tại Việt Nam, cho biết: “Chúng tôi sẽ tiếp tục hợp tác với FPT và các đối tác khác trong việc tạo ra những chiến lược phân phối hiệu quả hơn”.
Tuy không tiết lộ đối tác mới nhưng với hợp tác với BrightPoint đang thành công ở thị trường thế giới, việc HTC mở rộng hợp tác với BrightPoint ở thị trường Việt Nam cũng là điều dễ hiểu. 

Bánh nhỏ, miệng to

Ở một khía cạnh khác, “ẩn số” mang tên Brightstar cũng có thể khiến thị trường Việt Nam biến động. Mới đây, nhà phân phối này đã được quyền phân phối điện thoại iPhone, dẫn đường cho điện thoại của Apple vào Việt Nam không qua nhà mạng.
Ban đầu, Brightstar chỉ được quyền phân phối iPhone 3GS nhưng sức hút của iPhone đủ để hứa hẹn cho Brightstar tỏa sáng trong thời gian tới. 

Lý giải nguyên nhân cơ cấu lại bản đồ phân phối của các hãng sản xuất, ông Mai Triều Nguyên cho biết, chính sự suy giảm của nền kinh tế và số lượng người dùng đã tạo thành áp lực buộc các đơn vị phải tìm chiến lược mới để giữ mình.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Đạo, Phó tổng giám đốc Samsung Vina, nhận định: “Trong giai đoạn biến chuyển không ngừng như hiện nay, chính sách phát triển phân phối phải cải tiến nếu không muốn mất vị trí của mình”.

Theo Mobile Phone Tracker hằng quý của IDC Châu Á/ Thái Bình Dương, số lượng tiêu thụ ĐTDĐ của Việt Nam thời gian gần đây đã giảm khoảng 15%.
Ông Võ Lê Tâm Thanh, chuyên viên phân tích thị trường thuộc nhóm nghiên cứu thiết bị người dùng của IDC Việt Nam, cho biết thêm: “Một số hãng nội địa và Trung Quốc đã rút khỏi thị trường, và sẽ còn nhiều hãng rời khỏi thị trường vào năm 2012 do họ phải cố gắng thu hồi đầu tư trong điều kiện hiện tại”. 

Nhiều nhà cùng tham gia, miếng bánh thị trường ĐTDĐ ngày càng nhỏ và mức độ cạnh tranh thì ngày càng khốc liệt. Liệu việc vẽ lại bản đồ phân phối có giúp các nhà sản xuất tìm được bàn đạp để bứt phá khỏi khó khăn và chinh phục được vị thế mới hay không, câu trả lời thuộc về tương lai không xa lắm.